Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Bản Luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Bản Luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Pháp lệnh thương phiếu 1999
Đăng bởi
Vũ Minh Quân
on 16 thg 9, 2009
Mục:
Thanh Toán Quốc Tế,
Tín Dụng,
Văn Bản Luật
/
Comments: (0)
Luật các công cụ chuyển nhượng
Đăng bởi
Vũ Minh Quân
Mục:
Thanh Toán Quốc Tế,
Tín Dụng,
Văn Bản Luật
/
Comments: (0)
QUỐC HỘI ****** | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******** |
| Số: 49/2005/QH11 | Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2005 |
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Khoá XI, kỳ họp thứ 8
(Từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 29 tháng 11 năm 2005)
(Từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 29 tháng 11 năm 2005)
LUẬT
CÁC CÔNG CỤ CHUYỂN NHƯỢNG
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Luật này quy định về công cụ chuyển nhượng.
Luật này quy định về công cụ chuyển nhượng.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện. Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này gồm hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác, trừ công cụ nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 3. Cơ sở phát hành công cụ chuyển nhượng
1. Người ký phát, người phát hành được phát hành công cụ chuyển nhượng trên cơ sở giao dịch mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, cho vay giữa các tổ chức, cá nhân với nhau; giao dịch cho vay của tổ chức tín dụng với tổ chức, cá nhân; giao dịch thanh toán và giao dịch tặng cho theo quy định của pháp luật.
2. Quan hệ công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này độc lập, không phụ thuộc vào giao dịch cơ sở phát hành công cụ chuyển nhượng quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:
1. Công cụ chuyển nhượng là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định.
2. Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
3. Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
4. Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.
5. Người ký phát là người lập và ký phát hành hối phiếu đòi nợ, séc.
6. Người bị ký phát là người có trách nhiệm thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ, séc theo lệnh của người ký phát.
7. Người chấp nhận là người bị ký phát sau khi ký chấp nhận hối phiếu đòi nợ.
8. Người thụ hưởng là người sở hữu công cụ chuyển nhượng với tư cách của một trong những người sau đây:
a) Người được nhận thanh toán số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng theo chỉ định của người ký phát, người phát hành;
b) Người nhận chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng theo các hình thức chuyển nhượng quy định tại Luật này;
c) Người cầm giữ công cụ chuyển nhượng có ghi trả cho người cầm giữ.
9. Người phát hành là người lập và ký phát hành hối phiếu nhận nợ.
10. Người có liên quan là người tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng bằng cách ký tên trên công cụ chuyển nhượng với tư cách là người ký phát, người phát hành, người chấp nhận, người chuyển nhượng và người bảo lãnh.
11. Người thu hộ là ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm dịch vụ thu hộ công cụ chuyển nhượng.
12. Phát hành là việc người ký phát hoặc người phát hành lập, ký và chuyển giao công cụ chuyển nhượng lần đầu cho người thụ hưởng.
13. Chuyển nhượng là việc người thụ hưởng chuyển giao quyền sở hữu công cụ chuyển nhượng cho người nhận chuyển nhượng theo các hình thức chuyển nhượng quy định tại Luật này.
14. Chiết khấu công cụ chuyển nhượng là việc tổ chức tín dụng mua công cụ chuyển nhượng từ người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
15. Tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng là việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng mua lại công cụ chuyển nhượng đã được tổ chức tín dụng khác chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.
16. Chấp nhận là cam kết của người bị ký phát về việc sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ khi đến hạn thanh toán bằng việc ký chấp nhận trên hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này.
17. Trung tâm thanh toán bù trừ séc là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc tổ chức khác được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép để tổ chức, chủ trì việc trao đổi, thanh toán bù trừ séc, quyết toán các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ việc thanh toán bù trừ séc cho các thành viên là ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
18. Chữ ký là chữ ký bằng tay trực tiếp trên công cụ chuyển nhượng của người có quyền và nghĩa vụ đối với công cụ chuyển nhượng hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật. Chữ ký của người đại diện của tổ chức trên công cụ chuyển nhượng phải kèm theo việc đóng dấu.
19. Quan hệ công cụ chuyển nhượng là quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện về công cụ chuyển nhượng.
Điều 5. Áp dụng Luật các công cụ chuyển nhượng và pháp luật có liên quan
1. Các bên tham gia vào quan hệ công cụ chuyển nhượng phải tuân theo Luật này và pháp luật có liên quan.
2. Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với công cụ chuyển nhượng khác.
Điều 6. Áp dụng điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế trong quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài
1. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
2. Trong trường hợp quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài, các bên tham gia quan hệ công cụ chuyển nhượng được thoả thuận áp dụng các tập quán thương mại quốc tế gồm Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, Quy tắc thống nhất về nhờ thu của Phòng Thương mại quốc tế và các tập quán thương mại quốc tế có liên quan khác theo quy định của Chính phủ.
3. Trong trường hợp công cụ chuyển nhượng được phát hành ở Việt Nam nhưng được chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện ở một nước khác thì công cụ chuyển nhượng phải được phát hành theo quy định của Luật này.
4. Trong trường hợp công cụ chuyển nhượng được phát hành ở nước khác nhưng được chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện ở Việt Nam thì việc chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện được thực hiện theo quy định của Luật này.
Điều 7. Các thời hạn liên quan đến công cụ chuyển nhượng
1. Thời hạn thanh toán, thời hạn gửi thông báo truy đòi và thời hiệu khởi kiện khi có tranh chấp về quan hệ công cụ chuyển nhượng được tính cả ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ cuối tuần; nếu ngày cuối cùng của thời hạn trùng vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ cuối tuần thì ngày cuối cùng của thời hạn là ngày làm việc tiếp theo ngay sau ngày nghỉ lễ hoặc ngày nghỉ cuối tuần đó.
2. Thời hạn thanh toán cụ thể của từng công cụ chuyển nhượng do người ký phát, người phát hành xác định và ghi trên công cụ chuyển nhượng phù hợp với quy định của Luật này.
3. Thời hạn gửi thông báo truy đòi, thời hiệu khởi kiện khi công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán được thực hiện theo quy định tại Điều 50 và Điều 78 của Luật này.
Điều 8. Số tiền thanh toán trên công cụ chuyển nhượng
Số tiền thanh toán trên công cụ chuyển nhượng phải được ghi bằng số và bằng chữ.
Điều 9. Công cụ chuyển nhượng ghi trả bằng ngoại tệ
1. Công cụ chuyển nhượng được ghi trả bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
2. Công cụ chuyển nhượng ghi trả bằng ngoại tệ theo quy định tại khoản 1 Điều này được thanh toán bằng ngoại tệ khi người thụ hưởng cuối cùng được phép thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
3. Công cụ chuyển nhượng ghi trả bằng ngoại tệ nhưng người thụ hưởng cuối cùng là người không được phép thu ngoại tệ theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối thì số tiền trên công cụ chuyển nhượng được thanh toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán hoặc theo tỷ giá kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thực hiện việc thanh toán công bố tại thời điểm thanh toán, trong trường hợp ngân hàng thực hiện việc thanh toán.
Điều 10. Ngôn ngữ trên công cụ chuyển nhượng
Công cụ chuyển nhượng phải được lập bằng tiếng Việt, trừ trường hợp quan hệ công cụ chuyển nhượng có yếu tố nước ngoài thì công cụ chuyển nhượng có thể được lập bằng tiếng nước ngoài theo thoả thuận của các bên.
Điều 11. Chữ ký đủ ràng buộc nghĩa vụ
1. Công cụ chuyển nhượng phải có chữ ký của người ký phát hoặc người phát hành.
2. Người có liên quan chỉ có nghĩa vụ theo công cụ chuyển nhượng khi trên công cụ chuyển nhượng hoặc tờ phụ đính kèm có chữ ký của người có liên quan hoặc của người được người có liên quan uỷ quyền với tư cách là người ký phát, người phát hành, người chấp nhận, người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh.
Điều 12. Chữ ký giả mạo, chữ ký của người không được uỷ quyền
Khi trên công cụ chuyển nhượng có chữ ký giả mạo hoặc chữ ký của người không được uỷ quyền thì chữ ký đó không có giá trị; chữ ký của người có liên quan khác trên công cụ chuyển nhượng vẫn có giá trị.
Điều 13. Mất công cụ chuyển nhượng
1. Khi công cụ chuyển nhượng bị mất, người thụ hưởng phải thông báo ngay bằng văn bản cho người bị ký phát, người ký phát hoặc người phát hành. Người thụ hưởng phải thông báo rõ trường hợp bị mất công cụ chuyển nhượng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của việc thông báo. Người thụ hưởng có thể thông báo về việc mất công cụ chuyển nhượng bằng điện thoại và các hình thức trực tiếp khác nếu các bên có thoả thuận.
Trường hợp người bị mất công cụ chuyển nhượng không phải là người thụ hưởng thì phải thông báo ngay cho người thụ hưởng.
2. Trường hợp công cụ chuyển nhượng bị mất chưa đến hạn thanh toán, người thụ hưởng có quyền yêu cầu người phát hành, người ký phát phát hành lại công cụ chuyển nhượng có cùng nội dung với công cụ chuyển nhượng bị mất để thay thế sau khi người thụ hưởng đã thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị mất và có văn bản cam kết sẽ trả thay cho người bị ký phát hoặc người phát hành nếu công cụ chuyển nhượng đã được thông báo bị mất lại được người thụ hưởng hợp pháp xuất trình để yêu cầu thanh toán.
3. Khi đã nhận được thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị mất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người phát hành và người bị ký phát không được thanh toán công cụ chuyển nhượng đó. Việc kiểm tra, kiểm soát công cụ chuyển nhượng được thông báo bị mất thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
4. Trường hợp công cụ chuyển nhượng mất đã bị lợi dụng thanh toán trước khi người bị ký phát, người phát hành nhận được thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị mất thì người bị ký phát, người phát hành được miễn trách nhiệm nếu đã thực hiện đúng việc kiểm tra, kiểm soát của mình và thanh toán công cụ chuyển nhượng theo các quy định của Luật này.
5. Người bị ký phát, người phát hành có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thụ hưởng nếu thanh toán công cụ chuyển nhượng sau khi đã nhận được thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị mất.
Điều 14. Hư hỏng công cụ chuyển nhượng
1. Khi công cụ chuyển nhượng bị hư hỏng, người thụ hưởng được quyền yêu cầu người ký phát hoặc người phát hành phát hành lại công cụ chuyển nhượng có cùng nội dung để thay thế.
2. Người ký phát, người phát hành có nghĩa vụ phát hành lại công cụ chuyển nhượng, sau khi nhận được công cụ chuyển nhượng bị hư hỏng nếu công cụ chuyển nhượng này chưa đến hạn thanh toán và còn đủ thông tin hoặc có bằng chứng xác định người có công cụ bị hư hỏng là người thụ hưởng hợp pháp công cụ chuyển nhượng.
Điều 15. Các hành vi bị cấm
1. Làm giả công cụ chuyển nhượng, sửa chữa hoặc tẩy xóa các yếu tố trên công cụ chuyển nhượng.
2. Cố ý chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng hoặc xuất trình để thanh toán công cụ chuyển nhượng bị làm giả, bị sửa chữa, bị tẩy xóa.
3. Ký công cụ chuyển nhượng không đúng thẩm quyền hoặc giả mạo chữ ký trên công cụ chuyển nhượng.
4. Chuyển nhượng công cụ chuyển nhượng khi đã biết công cụ chuyển nhượng này quá hạn thanh toán hoặc đã bị từ chối chấp nhận, bị từ chối thanh toán hoặc đã được thông báo bị mất.
5. Cố ý phát hành công cụ chuyển nhượng khi không đủ khả năng thanh toán.
6. Cố ý phát hành séc sau khi bị đình chỉ quyền phát hành séc.
Chương II
HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ
Mục 1
PHÁT HÀNH HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ
Điều 16. Nội dung của hối phiếu đòi nợ
1. Hối phiếu đòi nợ có các nội dung sau đây:
a) Cụm từ “Hối phiếu đòi nợ” được ghi trên mặt trước của hối phiếu đòi nợ;
b) Yêu cầu thanh toán không điều kiện một số tiền xác định;
c) Thời hạn thanh toán;
d) Địa điểm thanh toán;
đ) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ của người bị ký phát;
e) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người thụ hưởng được người ký phát chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu đòi nợ theo lệnh của người thụ hưởng hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người cầm giữ;
g) Địa điểm và ngày ký phát;
h) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ và chữ ký của người ký phát.
2. Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu thiếu một trong các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thời hạn thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình;
b) Địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ sẽ được thanh toán tại địa chỉ của người bị ký phát;
c) Địa điểm ký phát không được ghi cụ thể trên hối phiếu đòi nợ thì hối phiếu đòi nợ được coi là ký phát tại địa chỉ của người ký phát.
3. Khi số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán. Trong trường hợp số tiền trên hối phiếu đòi nợ được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng số và có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trị thanh toán.
4. Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ không có đủ chỗ để viết, hối phiếu đòi nợ đó có thể có thêm tờ phụ đính kèm. Tờ phụ đính kèm được sử dụng để ghi nội dung bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu. Người đầu tiên lập tờ phụ phải gắn liền tờ phụ với hối phiếu đòi nợ và ký tên trên chỗ giáp lai giữa tờ phụ và hối phiếu đòi nợ.
Điều 17. Nghĩa vụ của người ký phát
1. Người ký phát có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
2. Trường hợp người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh đã thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng sau khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán thì người ký phát có nghĩa vụ thanh toán cho người chuyển nhượng hoặc người bảo lãnh số tiền ghi trên hối phiếu đó.
Mục II
CHẤP NHẬN HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ
Điều 18. Xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận
1. Người thụ hưởng phải xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận trong những trường hợp sau đây:
a) Người ký phát đã ghi trên hối phiếu đòi nợ là hối phiếu này phải được xuất trình để yêu cầu chấp nhận;
b) Hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 42 của Luật này phải xuất trình để yêu cầu chấp nhận trong thời hạn một năm kể từ ngày ký phát.
2. Việc xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận được coi là hợp lệ khi hối phiếu đòi nợ được người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình đúng địa điểm thanh toán, trong thời gian làm việc của người bị ký phát và chưa quá hạn thanh toán.
3. Hối phiếu đòi nợ có thể được xuất trình để chấp nhận dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng. Ngày xuất trình hối phiếu đòi nợ để chấp nhận trong trường hợp này được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm.
Điều 19. Thời hạn chấp nhận
Người bị ký phát thực hiện việc chấp nhận hoặc từ chối chấp nhận hối phiếu đòi nợ trong thời hạn hai ngày làm việc, kể từ ngày hối phiếu đòi nợ được xuất trình; trong trường hợp hối phiếu đòi nợ được xuất trình dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng thì thời hạn này được tính kể từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu đòi nợ.
Điều 20. Vi phạm nghĩa vụ xuất trình hối phiếu đòi nợ để yêu cầu chấp nhận
Khi người thụ hưởng không xuất trình hối phiếu đòi nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này thì người ký phát, người chuyển nhượng và người bảo lãnh cho những người này không có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đòi nợ, trừ người bảo lãnh cho người bị ký phát.
Điều 21. Hình thức và nội dung chấp nhận
1. Người bị ký phát thực hiện việc chấp nhận hối phiếu đòi nợ bằng cách ghi trên mặt trước của hối phiếu đòi nợ cụm từ “chấp nhận”, ngày chấp nhận và chữ ký của mình.
2. Trong trường hợp chỉ chấp nhận thanh toán một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ, người bị ký phát phải ghi rõ số tiền được chấp nhận.
Điều 22. Nghĩa vụ của người chấp nhận
Sau khi chấp nhận hối phiếu đòi nợ, người chấp nhận có nghĩa vụ thanh toán không điều kiện hối phiếu đòi nợ theo nội dung đã chấp nhận cho người thụ hưởng, người đã thanh toán hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này.
Điều 23. Từ chối chấp nhận
1. Hối phiếu đòi nợ được coi là bị từ chối chấp nhận, nếu không được người bị ký phát chấp nhận trong thời hạn quy định tại Điều 19 của Luật này.
2. Khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận toàn bộ hoặc một phần thì người thụ hưởng có quyền truy đòi ngay lập tức đối với người chuyển nhượng trước mình, người ký phát, người bảo lãnh theo quy định tại Điều 48 của Luật này.
Mục III
BẢO LÃNH HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ
Điều 24. Bảo lãnh hối phiếu đòi nợ
Bảo lãnh hối phiếu đòi nợ là việc người thứ ba (sau đây gọi là người bảo lãnh) cam kết với người nhận bảo lãnh sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ nếu đã đến hạn thanh toán mà người được bảo lãnh không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.
Điều 25. Hình thức bảo lãnh
1. Việc bảo lãnh hối phiếu đòi nợ được thực hiện bằng cách người bảo lãnh ghi cụm từ “bảo lãnh”, số tiền bảo lãnh, tên, địa chỉ, chữ ký của người bảo lãnh và tên người được bảo lãnh trên hối phiếu đòi nợ hoặc trên tờ phụ đính kèm hối phiếu đòi nợ.
2. Trong trường hợp bảo lãnh không ghi tên người được bảo lãnh thì việc bảo lãnh được coi là bảo lãnh cho người ký phát.
Điều 26. Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh
1. Người bảo lãnh có nghĩa vụ thanh toán hối phiếu đòi nợ đúng số tiền đã cam kết bảo lãnh nếu người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán.
2. Người bảo lãnh chỉ có quyền huỷ bỏ việc bảo lãnh trong trường hợp hối phiếu đòi nợ không đủ các nội dung bắt buộc quy định tại Điều 16 của Luật này.
3. Sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, người bảo lãnh được tiếp nhận các quyền của người được bảo lãnh đối với những người có liên quan, xử lý tài sản bảo đảm của người được bảo lãnh và có quyền yêu cầu người được bảo lãnh, người ký phát, người chấp nhận liên đới thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền bảo lãnh đã thanh toán.
4. Việc bảo lãnh hối phiếu đòi nợ của tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật liên quan đến bảo lãnh ngân hàng.
Mục IV
CHUYỂN NHƯỢNG HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ
Điều 27. Hình thức chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ
Người thụ hưởng chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ theo một trong các hình thức sau đây:
1. Ký chuyển nhượng;
2. Chuyển giao.
Điều 28. Hối phiếu đòi nợ không được chuyển nhượng
Hối phiếu đòi nợ không được chuyển nhượng nếu trên hối phiếu đòi nợ có ghi cụm từ “không được chuyển nhượng”, “cấm chuyển nhượng”, “không trả theo lệnh” hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự.
Điều 29. Nguyên tắc chuyển nhượng
1. Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ là chuyển nhượng toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ. Việc chuyển nhượng một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ không có giá trị.
2. Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho hai người trở lên không có giá trị.
3. Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ bằng ký chuyển nhượng phải là không điều kiện. Người chuyển nhượng không được ghi thêm trên hối phiếu đòi nợ bất kỳ điều kiện nào ngoài nội dung quy định tại Điều 31 của Luật này. Mọi điều kiện kèm theo việc ký chuyển nhượng không có giá trị.
4. Việc chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ là sự chuyển nhượng tất cả các quyền phát sinh từ hối phiếu đòi nợ.
5. Hối phiếu đòi nợ quá hạn thanh toán hoặc đã bị từ chối chấp nhận hoặc đã bị từ chối thanh toán thì không được chuyển nhượng.
6. Người thụ hưởng có thể chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho người chấp nhận, người ký phát hoặc người chuyển nhượng.
Điều 30. Chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng
1. Chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng là việc người thụ hưởng chuyển quyền sở hữu hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng bằng cách ký vào mặt sau hối phiếu đòi nợ và chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng.
2. Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng được áp dụng đối với tất cả hối phiếu đòi nợ, trừ hối phiếu đòi nợ không được chuyển nhượng quy định tại Điều 28 của Luật này.
Điều 31. Hình thức và nội dung ký chuyển nhượng
1. Việc chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng phải được người thụ hưởng viết, ký trên mặt sau của hối phiếu đòi nợ.
2. Người chuyển nhượng có thể ký chuyển nhượng theo một trong hai hình thức sau đây:
a) Ký chuyển nhượng để trống;
b) Ký chuyển nhượng đầy đủ.
3. Khi chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng để trống, người chuyển nhượng ký vào mặt sau của hối phiếu đòi nợ và chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng. Việc ký chuyển nhượng cho người cầm giữ hối phiếu là ký chuyển nhượng để trống.
4. Khi chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng đầy đủ, người chuyển nhượng ký vào mặt sau của hối phiếu đòi nợ và phải ghi đầy đủ tên của người được chuyển nhượng, ngày chuyển nhượng.
Điều 32. Quyền và nghĩa vụ của người ký chuyển nhượng
1. Người ký chuyển nhượng có nghĩa vụ bảo đảm hối phiếu đòi nợ đã chuyển nhượng sẽ được chấp nhận và thanh toán, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Khi hối phiếu này bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán một phần hoặc toàn bộ, người ký chuyển nhượng có nghĩa vụ thanh toán số tiền bị từ chối của hối phiếu đòi nợ đã chuyển nhượng.
2. Người ký chuyển nhượng có thể không cho chuyển nhượng tiếp hối phiếu đòi nợ bằng cách ghi thêm cụm từ “không chuyển nhượng”, “cấm chuyển nhượng” hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự trong nội dung ký chuyển nhượng trên hối phiếu đòi nợ; trường hợp hối phiếu đòi nợ được tiếp tục chuyển nhượng thì người ký chuyển nhượng này không có nghĩa vụ thanh toán đối với người nhận chuyển nhượng sau đó.
Điều 33. Chuyển nhượng bằng chuyển giao.
1. Chuyển nhượng bằng chuyển giao là việc người thụ hưởng chuyển quyền sở hữu hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng bằng cách chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận chuyển nhượng.
2. Việc chuyển nhượng bằng chuyển giao được áp dụng đối với các hối phiếu đòi nợ sau đây:
a) Hối phiếu đòi nợ được ký phát trả cho người cầm giữ;
b) Hối phiếu đòi nợ chỉ có một chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng để trống;
c) Hối phiếu đòi nợ có chuyển nhượng cuối cùng là ký chuyển nhượng để trống.
Điều 34. Quyền của người nhận chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ bằng chuyển giao hoặc ký chuyển nhượng để trống
Người nhận chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ bằng hình thức chuyển giao hoặc ký chuyển nhượng để trống có các quyền sau đây:
1. Điền vào chỗ trống tên của mình hoặc tên của người khác;
2. Tiếp tục ký chuyển nhượng để trống hối phiếu đòi nợ bằng cách ký trên hối phiếu đòi nợ;
3. Tiếp tục chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ cho người khác bằng chuyển giao;
4. Ký chuyển nhượng đầy đủ hối phiếu đòi nợ.
Điều 35. Chiết khấu, tái chiết khấu hối phiếu đòi nợ
Hối phiếu đòi nợ có thể được chiết khấu hoặc tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước Việt nam, các tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Mục V
CHUYỂN GIAO ĐỂ CẦM CỐ VÀ CHUYỂN GIAO ĐỂ NHỜ THU HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ
Điều 36. Quyền được cầm cố hối phiếu đòi nợ
Người thụ hưởng có quyền cầm cố hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Mục này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 37. Chuyển giao hối phiếu đòi nợ để cầm cố
Người cầm cố hối phiếu đòi nợ phải chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người nhận cầm cố. Thoả thuận về cầm cố hối phiếu đòi nợ phải được lập thành văn bản.
Điều 38. Xử lý hối phiếu đòi nợ được cầm cố
Khi người cầm cố hoàn thành nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu đòi nợ thì người nhận cầm cố phải hoàn trả hối phiếu đòi nợ cho người cầm cố. Trong trường hợp người cầm cố không thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu đòi nợ thì người nhận cầm cố trở thành người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ và được thanh toán theo nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.
Điều 39. Nhờ thu qua người thu hộ
1. Người thụ hưởng có thể chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người thu hộ để nhờ thu số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ bằng cách chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người thu hộ theo quy định của Luật này kèm theo uỷ quyền bằng văn bản về việc thu hộ.
2. Người thu hộ không được thực hiện các quyền của người thụ hưởng theo hối phiếu đòi nợ ngoài quyền xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán, quyền nhận số tiền trên hối phiếu, quyền chuyển giao hối phiếu đòi nợ cho người thu hộ khác để nhờ thu hối phiếu đòi nợ.
3. Người thu hộ phải xuất trình hối phiếu đòi nợ cho người bị ký phát để thanh toán theo quy định tại Điều 43 của Luật này. Trường hợp người thu hộ không xuất trình hoặc xuất trình không đúng thời hạn hối phiếu đòi nợ để thanh toán dẫn đến hối phiếu đòi nợ không được thanh toán thì người thu hộ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thụ hưởng tối đa bằng số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ.
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể thủ tục nhờ thu hối phiếu đòi nợ qua người thu hộ.
Mục VI
THANH TOÁN HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ
Điều 40. Người thụ hưởng
Người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ được coi là người thụ hưởng hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Cầm giữ hối phiếu đòi nợ chưa quá hạn thanh toán và không biết hối phiếu đòi nợ này đã có thông báo về việc bị từ chối chấp nhận, từ chối thanh toán;
2. Xác lập quyền sở hữu đối với hối phiếu đòi nợ một cách hợp pháp. Trường hợp người thụ hưởng nhận chuyển nhượng hối phiếu thông qua ký chuyển nhượng thì các chữ ký chuyển nhượng trên hối phiếu phải liên tục, không ngắt quãng;
3. Không có thông báo về việc những người ký chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ trước đó đã cầm giữ hối phiếu đòi nợ bằng cách gian lận, cưỡng bức, ép buộc hoặc cách thức không hợp pháp khác.
Điều 41. Quyền của người thụ hưởng
1. Người thụ hưởng cầm giữ hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Điều 40 của Luật này có các quyền sau đây:
a) Xuất trình hối phiếu đòi nợ để chấp nhận hoặc để thanh toán khi hối phiếu đòi nợ đến hạn;
b) Yêu cầu những người có liên quan thanh toán hối phiếu đòi nợ khi đến hạn;
c) Chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ theo các quy định của Luật này;
d) Chuyển giao để cầm cố hoặc chuyển giao để nhờ thu hối phiếu đòi nợ;
đ) Truy đòi, khởi kiện về hối phiếu đòi nợ.
2. Quyền của người thụ hưởng cầm giữ hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Điều 40 của Luật này vẫn được đảm bảo ngay cả khi những người có liên quan trước đó cầm giữ hối phiếu không hợp pháp.
Điều 42. Thời hạn thanh toán
1. Thời hạn thanh toán của hối phiếu đòi nợ được ghi theo một trong các thời hạn sau đây:
a) Ngay khi xuất trình;
b) Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày hối phiếu đòi nợ được chấp nhận;
c) Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày ký phát;
d) Vào một ngày được xác định cụ thể.
2. Hối phiếu đòi nợ không có giá trị nếu ghi nhiều thời hạn thanh toán hoặc ghi thời hạn không đúng quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 43. Xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán
1. Người thụ hưởng có quyền xuất trình hối phiếu đòi nợ tại địa điểm thanh toán để yêu cầu người bị ký phát thanh toán vào ngày hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán hoặc trong thời hạn năm ngày làm việc tiếp theo.
2. Người thụ hưởng có thể xuất trình hối phiếu đòi nợ sau thời hạn ghi trên hối phiếu đòi nợ, nếu việc chậm xuất trình do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan gây ra. Thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn thanh toán.
3. Hối phiếu đòi nợ có ghi thời hạn thanh toán là “ngay khi xuất trình” phải được xuất trình để thanh toán trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày ký phát.
4. Việc xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán được coi là hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Do người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình;
b) Hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán;
c) Xuất trình tại địa điểm thanh toán theo quy định tại điểm d khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 16 của Luật này.
5. Người thụ hưởng có thể xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng. Việc xác định thời điểm xuất trình hối phiếu đòi nợ để thanh toán được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi thư bảo đảm.
Điều 44. Thanh toán hối phiếu đòi nợ
1. Người bị ký phát phải thanh toán hoặc từ chối thanh toán hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được hối phiếu đòi nợ. Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ được xuất trình thanh toán dưới hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng thì thời hạn này được tính kể từ ngày người bị ký phát xác nhận đã nhận được hối phiếu đòi nợ.
2. Khi hối phiếu đòi nợ đã được thanh toán toàn bộ, người thụ hưởng phải ký, chuyển giao hối phiếu đòi nợ, tờ phụ đính kèm cho người đã thanh toán.
Điều 45. Từ chối thanh toán
1. Hối phiếu đòi nợ được coi là bị từ chối thanh toán, nếu người thụ hưởng không được thanh toán đầy đủ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này.
2. Khi hối phiếu đòi nợ bị từ chối thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ, người thụ hưởng có quyền truy đòi ngay số tiền chưa được thanh toán đối với người chuyển nhượng trước mình, người ký phát và người bảo lãnh theo quy định tại Điều 48 của Luật này.
Điều 46. Hoàn thành thanh toán hối phiếu đòi nợ
Việc thanh toán hối phiếu đòi nợ được coi là hoàn thành trong các trường hợp sau đây:
1. Người ký phát, người bị ký phát, người chấp nhận đã thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ cho người thụ hưởng;
2. Người chấp nhận trở thành người thụ hưởng của hối phiếu đòi nợ vào ngày đến hạn thanh toán hoặc sau ngày đó;
3. Người thụ hưởng huỷ bỏ hối phiếu đòi nợ hoặc từ bỏ quyền đối với hối phiếu đòi nợ khi việc huỷ bỏ hoặc từ bỏ này được ghi rõ trên hối phiếu đòi nợ bằng cụm từ “huỷ bỏ”, “từ bỏ” hoặc cụm từ khác có ý nghĩa tương tự, ngày huỷ bỏ, từ bỏ và chữ ký của người thụ hưởng.
Điều 47. Thanh toán trước hạn
Người bị ký phát thanh toán hối phiếu đòi nợ trước khi đến hạn thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng phải chịu mọi thiệt hại phát sinh do thanh toán trước hạn.
Mục VII
TRUY ĐÒI DO HỐI PHIẾU ĐÒI NỢ KHÔNG ĐƯỢC CHẤP NHẬN HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THANH TOÁN
Điều 48. Quyền truy đòi
1. Người thụ hưởng có quyền truy đòi số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này đối với những người sau đây:
a) Người ký phát, người bảo lãnh, người chuyển nhượng trước mình trong trường hợp hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận một phần hoặc toàn bộ theo quy định của Luật này;
b) Người ký phát, người chuyển nhượng, người bảo lãnh, khi hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán mà không được thanh toán theo nội dung của hối phiếu đòi nợ;
c) Người ký phát, người chuyển nhượng, người bảo lãnh trong trường hợp người bị ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết hoặc mất tích, kể cả trường hợp hối phiếu đòi nợ đã được chấp nhận hoặc chưa được chấp nhận;
d) Người chuyển nhượng, người bảo lãnh trong trường hợp hối phiếu đòi nợ chưa đến hạn thanh toán nhưng người ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết hoặc mất tích và hối phiếu đòi nợ chưa được chấp nhận.
2. Người chuyển nhượng đã trả tiền cho người thụ hưởng được quyền truy đòi đối với người ký phát hoặc người chuyển nhượng trước mình.
Điều 49. Văn bản thông báo truy đòi
Trong trường hợp hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán, người thụ hưởng phải thông báo bằng văn bản cho người ký phát, người chuyển nhượng cho mình, người bảo lãnh cho những người này về việc từ chối đó.
Điều 50. Thời hạn thông báo
1. Người thụ hưởng phải thông báo cho người ký phát, người chuyển nhượng cho mình, người bảo lãnh cho những người này về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán trong thời hạn bốn ngày làm việc, kể từ ngày bị từ chối.
2. Trong thời hạn bốn ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, mỗi người chuyển nhượng phải thông báo bằng văn bản cho người chuyển nhượng cho mình về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối, kèm theo tên và địa chỉ của người đã thông báo cho mình. Việc thông báo này được thực hiện cho đến khi người ký phát nhận được thông báo về việc hối phiếu đòi nợ bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
3. Trong thời hạn thông báo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu việc thông báo không thực hiện được do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan gây ra thì thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn thông báo.
Điều 51. Trách nhiệm của những người có liên quan
1. Người ký phát, người chuyển nhượng chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho người thụ hưởng toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu đòi nợ.
2. Người chấp nhận, người bảo lãnh chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho người thụ hưởng số tiền đã cam kết chấp nhận hoặc cam kết bảo lãnh.
Điều 52. Số tiền được thanh toán
Người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán các khoản tiền sau đây:
1. Số tiền không được chấp nhận hoặc không được thanh toán;
2. Chi phí truy đòi, các chi phí hợp lý có liên quan khác;
3. Tiền lãi trên số tiền chậm trả kể từ ngày hối phiếu đòi nợ đến hạn thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Chương III
HỐI PHIẾU NHẬN NỢ
Điều 53. Nội dung của hối phiếu nhận nợ
1. Hối phiếu nhận nợ có các nội dung sau đây:
a) Cụm từ “Hối phiếu nhận nợ” được ghi trên mặt trước của hối phiếu nhận nợ;
b) Cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định;
c) Thời hạn thanh toán;
d) Địa điểm thanh toán;
đ) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người thụ hưởng được người phát hành chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu nhận nợ theo lệnh của người thụ hưởng hoặc yêu cầu thanh toán hối phiếu cho người cầm giữ;
e) Địa điểm và ngày ký phát hành;
g) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân, địa chỉ và chữ ký của người phát hành.
2. Hối phiếu nhận nợ không có giá trị nếu thiếu một trong các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, trừ các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp địa điểm thanh toán không được ghi trên hối phiếu nhận nợ thì địa điểm thanh toán là địa chỉ của người phát hành.
b) Trường hợp địa điểm phát hành không được ghi trên hối phiếu nhận nợ thì địa điểm phát hành là địa chỉ của người phát hành.
3. Khi số tiền trên hối phiếu nhận nợ được ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì số tiền ghi bằng chữ có giá trị thanh toán. Trong trường hợp số tiền trên hối phiếu nhận nợ được ghi hai lần trở lên bằng chữ hoặc bằng số và có sự khác nhau thì số tiền có giá trị nhỏ nhất được ghi bằng chữ có giá trị thanh toán.
4. Trong trường hợp hối phiếu nhận nợ không có đủ chỗ để viết, hối phiếu nhận nợ đó có thể có thêm tờ phụ đính kèm. Tờ phụ đính kèm được sử dụng để ghi nội dung bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu. Người đầu tiên lập tờ phụ phải gắn liền tờ phụ với hối phiếu nhận nợ và ký tên trên chỗ giáp lai giữa tờ phụ và hối phiếu nhận nợ.
Điều 54. Nghĩa vụ của người phát hành
Người phát hành có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu nhận nợ cho người thụ hưởng khi đến hạn thanh toán và có các nghĩa vụ khác như người chấp nhận hối phiếu đòi nợ theo quy định của Luật này.
Điều 55. Nghĩa vụ của người chuyển nhượng lần đầu hối phiếu nhận nợ
Người chuyển nhượng lần đầu hối phiếu nhận nợ có nghĩa vụ như người ký phát hối phiếu đòi nợ theo quy định tại Điều 17 của Luật này.
Điều 56. Hoàn thành thanh toán hối phiếu nhận nợ
Việc thanh toán hối phiếu nhận nợ được coi là hoàn thành trong các trường hợp sau đây:
1. Khi người phát hành trở thành người thụ hưởng của hối phiếu nhận nợ vào ngày đến hạn thanh toán hoặc sau ngày đó;
2. Người phát hành đã thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu nhận nợ cho người thụ hưởng;
3. Người thụ hưởng huỷ bỏ hối phiếu nhận nợ.
Điều 57. Bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi hối phiếu nhận nợ
Các quy định từ Điều 24 đến Điều 52 của Luật này về bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi hối phiếu đòi nợ cũng được áp dụng tương tự đối với hối phiếu nhận nợ.
Chương IV
SÉC
Mục I
CÁC NỘI DUNG CỦA SÉC VÀ KÝ PHÁT SÉC
Điều 58. Các nội dung của séc
1. Mặt trước séc có các nội dung sau đây:
a) Từ "Séc" được in phía trên séc;
b) Số tiền xác định;
c) Tên của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là người bị ký phát;
d) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân của người thụ hưởng được người ký phát chỉ định hoặc yêu cầu thanh toán séc theo lệnh của người thụ hưởng hoặc yêu cầu thanh toán séc cho người cầm giữ;
đ) Địa điểm thanh toán;
e) Ngày ký phát;
g) Tên đối với tổ chức hoặc họ, tên đối với cá nhân và chữ ký của người ký phát.
2. Séc thiếu một trong các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này thì không có giá trị, trừ trường hợp địa điểm thanh toán không ghi trên séc thì séc được thanh toán tại địa điểm kinh doanh của người bị ký phát.
3. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức cung ứng séc có thể đưa thêm những nội dung khác mà không làm phát sinh thêm nghĩa vụ pháp lý của các bên như số hiệu tài khoản mà người ký phát được sử dụng để ký phát séc, địa chỉ của người ký phát, địa chỉ của người bị ký phát và các nội dung khác.
4. Trường hợp séc được thanh toán qua Trung tâm thanh toán bù trừ séc thì trên séc phải có thêm các nội dung theo quy định của Trung tâm thanh toán bù trừ séc.
5. Mặt sau của séc được sử dụng để ghi các nội dung chuyển nhượng séc.
6. Số tiền ghi bằng số trên séc phải bằng với số tiền ghi bằng chữ trên séc. Nếu số tiền ghi bằng số khác với số tiền ghi bằng chữ thì séc không có giá trị thanh toán.
Điều 59. Kích thước séc và việc bố trí vị trí các nội dung trên séc
1. Kích thước séc và việc bố trí vị trí các nội dung trên séc do tổ chức cung ứng séc thiết kế và thực hiện, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Trung tâm thanh toán bù trừ séc quy định về kích thước séc, nội dung và vị trí các nội dung trên séc đối với séc thanh toán qua Trung tâm thanh toán bù trừ séc.
Điều 60. Ký phát séc
1. Séc được ký phát để ra lệnh cho người bị ký phát thanh toán:
a) Cho một người xác định và không cho phép chuyển nhượng séc bằng cách ghi rõ tên của người thụ hưởng và kèm theo một trong các cụm từ “không chuyển nhượng”, “không trả theo lệnh”;
b) Cho một người xác định và cho phép chuyển nhượng séc bằng cách ghi rõ tên của người thụ hưởng và không có cụm từ không cho phép chuyển nhượng quy định tại điểm a Khoản này;
c) Cho người cầm giữ séc, bằng cách ghi cụm từ “trả cho người cầm giữ séc” hoặc không ghi tên người thụ hưởng.
2. Séc có thể được ký phát ra lệnh cho người bị ký phát thanh toán số tiền ghi trên séc cho chính người ký phát.
3. Séc không được ký phát để ra lệnh cho chính người ký phát thực hiện thanh toán séc, trừ trường hợp ký phát để trả tiền từ đơn vị này sang đơn vị khác của người ký phát.
4. Người ký phát séc là tổ chức, cá nhân có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Điều 61. Séc trả tiền vào tài khoản và séc trả tiền mặt
1. Người ký phát séc hoặc người chuyển nhượng séc có thể không cho phép thanh toán séc bằng tiền mặt bằng cách ghi trên séc cụm từ ''trả vào tài khoản''. Trong trường hợp này, người bị ký phát chỉ được chuyển số tiền ghi trên séc đó vào tài khoản của người thụ hưởng mà không được phép trả bằng tiền mặt, kể cả trường hợp cụm từ “trả vào tài khoản” bị gạch bỏ.
2. Trường hợp séc không ghi cụm từ ''trả vào tài khoản'' thì người bị ký phát thanh toán séc cho người thụ hưởng bằng tiền mặt.
Điều 62. Séc gạch chéo không ghi tên và séc gạch chéo có ghi tên
1. Người ký phát hoặc người chuyển nhượng séc có thể quy định séc chỉ được thanh toán cho một ngân hàng hoặc cho người thụ hưởng có tài khoản tại ngân hàng bị ký phát bằng cách vạch lên trên séc hai gạch chéo song song.
2. Người ký phát hoặc người chuyển nhượng séc có thể quy định séc chỉ được thanh toán cho một ngân hàng cụ thể hoặc cho người thụ hưởng có tài khoản tại ngân hàng đó bằng cách vạch lên trên séc hai gạch chéo song song và ghi tên của ngân hàng đó giữa hai gạch chéo này. Séc có tên hai ngân hàng giữa hai gạch chéo sẽ không có giá trị thanh toán, trừ trường hợp một trong hai ngân hàng có tên giữa hai gạch chéo là ngân hàng thu hộ.
Mục II
CUNG ỨNG SÉC
Điều 63. Cung ứng séc trắng
1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cung ứng séc trắng cho các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác cung ứng séc trắng cho tổ chức, cá nhân sử dụng tài khoản để ký phát séc.
3. Tổ chức cung ứng séc quy định điều kiện, thủ tục đối với việc bảo quản, sử dụng séc do mình cung ứng.
Điều 64. In, giao nhận và bảo quản séc trắng
1. Tổ chức cung ứng séc tổ chức việc in séc trắng để cung ứng cho người sử dụng.
2. Trước khi séc trắng được in và cung ứng để sử dụng, các tổ chức cung ứng séc phải đăng ký mẫu séc trắng tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
3. Việc in, giao nhận, bảo quản và sử dụng séc trắng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về in, giao nhận, bảo quản và sử dụng ấn chỉ có giá.
Mục III
CHUYỂN NHƯỢNG, NHỜ THU SÉC
Điều 65. Chuyển nhượng séc
Việc chuyển nhượng séc được áp dụng theo quy định về chuyển nhượng hối phiếu đòi nợ tại Mục IV Chương II của Luật này, trừ trường hợp chuyển giao để nhờ thu séc cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo quy định tại Điều 66 của Luật này.
Điều 66. Chuyển giao séc để nhờ thu séc
1. Người thụ hưởng séc có thể chuyển giao séc để nhờ thu thông qua việc ký chuyển nhượng và chuyển giao séc cho người thu hộ.
2. Người thu hộ chỉ có quyền thay mặt cho người chuyển giao để xuất trình séc, nhận số tiền ghi trên séc, chuyển giao séc cho người thu hộ khác nhờ thu séc; truy đòi số tiền ghi trên séc đối với người ký phát và người chuyển giao séc nếu người thu hộ đã thanh toán trước số tiền ghi trên séc cho người thụ hưởng và séc được nhờ thu bị người bị ký phát từ chối thanh toán.
Mục IV
BẢO ĐẢM THANH TOÁN SÉC
Điều 67. Bảo chi séc
1. Trường hợp séc có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 58 của Luật này và người ký phát có đủ tiền để thanh toán séc khi yêu cầu bảo chi séc thì người bị ký phát có nghĩa vụ bảo chi séc bằng cách ghi cụm từ ''bảo chi'' và ký tên trên séc.
2. Người bị ký phát có nghĩa vụ giữ lại số tiền đủ để thanh toán cho séc đã bảo chi khi séc đó được xuất trình trong thời hạn xuất trình.
Điều 68. Bảo lãnh séc
Việc bảo lãnh séc được thực hiện theo các quy định về bảo lãnh hối phiếu đòi nợ quy định từ Điều 24 đến Điều 26 của Luật này.
Mục V
XUẤT TRÌNH VÀ THANH TOÁN SÉC
Điều 69. Thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán séc và địa điểm xuất trình
1. Thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán séc là ba mươi ngày, kể từ ngày ký phát.
2. Người thụ hưởng được xuất trình yêu cầu thanh toán séc muộn hơn, nếu việc chậm xuất trình do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan gây ra. Thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán.
3. Trong thời hạn xuất trình yêu cầu thanh toán, séc phải được xuất trình để thanh toán tại địa điểm thanh toán quy định tại điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 58 của Luật này hoặc tại Trung tâm thanh toán bù trừ séc nếu được thanh toán qua Trung tâm này.
4. Việc xuất trình séc để thanh toán được coi là hợp lệ khi séc được người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người thụ hưởng xuất trình tại địa điểm thanh toán quy định tại khoản 3 Điều này.
5. Người thụ hưởng có thể xuất trình séc để thanh toán theo hình thức thư bảo đảm qua mạng bưu chính công cộng. Việc xác định thời điểm xuất trình séc để thanh toán được tính theo ngày trên dấu bưu điện nơi gửi.
Điều 70. Xuất trình séc tại Trung tâm thanh toán bù trừ séc
Ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác xuất trình yêu cầu thanh toán séc tại Trung tâm thanh toán bù trừ séc theo quy định của Trung tâm này.
Điều 71. Thực hiện thanh toán
1. Khi séc được xuất trình để thanh toán theo thời hạn và địa điểm xuất trình quy định tại Điều 69 của Luật này thì người bị ký phát có trách nhiệm thanh toán trong ngày xuất trình hoặc ngày làm việc tiếp theo nếu người ký phát có đủ tiền trên tài khoản để thanh toán.
2. Người bị ký phát không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều này phải bồi thường thiệt hại cho người thụ hưởng, tối đa bằng tiền lãi của số tiền ghi trên séc tính từ ngày séc được xuất trình để thanh toán theo mức lãi suất phạt chậm trả séc do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định áp dụng tại thời điểm xuất trình séc
3. Trường hợp séc được xuất trình để thanh toán trước ngày ghi là ngày ký phát trên séc thì việc thanh toán chỉ được thực hiện kể từ ngày ký phát ghi trên séc.
4. Séc được xuất trình sau thời hạn xuất trình để thanh toán nhưng chưa quá sáu tháng kể từ ngày ký phát thì người bị ký phát vẫn có thể thanh toán nếu người bị ký phát không nhận được thông báo đình chỉ thanh toán đối với séc đó và người ký phát có đủ tiền trên tài khoản để thanh toán.
5. Trường hợp khoản tiền mà người ký phát được sử dụng để ký phát séc không đủ để thanh toán toàn bộ số tiền ghi trên séc theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu người thụ hưởng yêu cầu được thanh toán một phần số tiền ghi trên séc thì người bị ký phát có nghĩa vụ thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng trong phạm vi khoản tiền mà người ký phát hiện có và được sử dụng để thanh toán séc.
6. Khi thanh toán một phần số tiền ghi trên séc, người bị ký phát phải ghi rõ số tiền đã được thanh toán trên séc và trả lại séc cho người thụ hưởng hoặc người được người thụ hưởng ủy quyền. Người thụ hưởng hoặc người được người thụ hưởng ủy quyền phải lập văn bản biên nhận về việc thanh toán đó và giao cho người bị ký phát.
7. Văn bản biên nhận trong trường hợp này được coi là văn bản chứng minh việc người bị ký phát đã thanh toán một phần số tiền ghi trên séc.
8. Trường hợp séc được xuất trình để thanh toán sau khi người ký phát bị tuyên bố phá sản, giải thể, chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì séc vẫn có hiệu lực thanh toán theo quy định tại Điều này.
9. Việc thanh toán séc theo quy định tại khoản 4 Điều này chấm dứt sau sáu tháng, kể từ ngày ký phát ghi trên séc.
Điều 72. Thanh toán séc đã được chuyển nhượng
Khi thanh toán séc đã được chuyển nhượng bằng ký chuyển nhượng, người bị ký phát phải kiểm tra để bảo đảm tính liên tục của dãy chữ ký chuyển nhượng.
Điều 73. Đình chỉ thanh toán séc
1. Người ký phát có quyền yêu cầu đình chỉ thanh toán séc mà mình đã ký phát bằng việc thông báo bằng văn bản cho người bị ký phát yêu cầu đình chỉ thanh toán séc khi séc này được xuất trình yêu cầu thanh toán. Thông báo đình chỉ thanh toán chỉ có hiệu lực sau thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật này.
2. Người ký phát có nghĩa vụ thanh toán số tiền ghi trên séc sau khi séc bị người bị ký phát từ chối thanh toán theo thông báo đình chỉ thanh toán của mình.
Điều 74. Từ chối thanh toán séc
1. Séc được coi là bị từ chối thanh toán nếu sau thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 71 của Luật này, người thụ hưởng chưa nhận được đủ số tiền ghi trên séc.
2. Khi từ chối thanh toán séc, người bị ký phát, Trung tâm thanh toán bù trừ séc phải lập giấy xác nhận từ chối thanh toán, ghi rõ số séc, số tiền từ chối, lý do từ chối, ngày tháng xuất trình, tên, địa chỉ của người ký phát séc, ký tên và giao cho người xuất trình séc.
Điều 75. Truy đòi séc do không được thanh toán
Việc truy đòi séc do không được thanh toán được áp dụng tương tự theo các quy định từ Điều 48 đến Điều 52 của Luật này.
Chương V
KHỞI KIỆN, THANH TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 76. Khởi kiện của người thụ hưởng
1. Sau khi gửi thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng, người thụ hưởng có quyền khởi kiện tại Toà án đối với một, một số hoặc tất cả những người có liên quan để yêu cầu thanh toán số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này. Hồ sơ khởi kiện phải có đơn kiện, công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán, thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
2. Người thụ hưởng không xuất trình công cụ chuyển nhượng để thanh toán trong thời hạn quy định tại Điều 43 và Điều 69 của Luật này hoặc không gửi thông báo về việc bị từ chối chấp nhận hoặc từ chối thanh toán trong thời hạn quy định tại Điều 50 của Luật này thì mất quyền khởi kiện đối với những người có liên quan, trừ người phát hành, người chấp nhận hoặc người ký phát, người bảo lãnh cho người bị ký phát trong trường hợp hối phiếu đòi nợ chưa được chấp nhận.
Điều 77. Khởi kiện của người có liên quan
Người có liên quan bị khởi kiện theo quy định tại Điều 76 của Luật này được quyền khởi kiện người chuyển nhượng trước mình, người chấp nhận, người phát hành, người ký phát hoặc người bảo lãnh cho những người này về số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này, kể từ ngày người có liên quan này hoàn thành nghĩa vụ thanh toán công cụ chuyển nhượng.
Điều 78. Thời hiệu khởi kiện
1. Người thụ hưởng có quyền khởi kiện người ký phát, người phát hành, người bảo lãnh, người chuyển nhượng, người chấp nhận yêu cầu thanh toán số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán.
2. Người có liên quan bị khởi kiện theo quy định tại Điều 76 của Luật này có quyền khởi kiện người ký phát, người phát hành, người chuyển nhượng trước mình, người bảo lãnh, người chấp nhận về số tiền quy định tại Điều 52 của Luật này trong thời hạn hai năm, kể từ ngày người có liên quan này hoàn thành nghĩa vụ thanh toán công cụ chuyển nhượng.
3. Trường hợp người thụ hưởng không xuất trình công cụ chuyển nhượng để thanh toán đúng hạn theo quy định tại Điều 43 và Điều 69 của Luật này hoặc không gửi thông báo về việc công cụ chuyển nhượng bị từ chối chấp nhận hoặc bị từ chối thanh toán trong thời hạn quy định tại Điều 50 của Luật này thì chỉ có quyền khởi kiện người chấp nhận, người phát hành, người ký phát, người bảo lãnh cho người bị ký phát trong thời hạn hai năm, kể từ ngày ký phát công cụ chuyển nhượng.
4. Trong thời hiệu khởi kiện quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, nếu xẩy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan ảnh hưởng tới việc thực hiện quyền khởi kiện của người thụ hưởng và người có liên quan thì thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Điều 79. Giải quyết tranh chấp
1. Tranh chấp về công cụ chuyển nhượng có thể được giải quyết tại Toà án hoặc Trọng tài thương mại.
2. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về công cụ chuyển nhượng. Toà án nhân dân giải quyết tranh chấp về công cụ chuyển nhượng một cách độc lập với các giao dịch cơ sở phát hành công cụ chuyển nhượng và chỉ dựa trên hồ sơ khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này. Trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp về công cụ chuyển nhượng tại Toà án được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về công cụ chuyển nhượng, nếu trước hoặc sau khi xẩy ra tranh chấp các bên có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Thoả thuận trọng tài và trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài thực hiện theo quy định của pháp luật về trọng tài.
Điều 80. Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công cụ chuyển nhượng
1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công cụ chuyển nhượng trong các giao dịch công cụ chuyển nhượng có liên quan đến hoạt động ngân hàng.
2. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm trực tiếp hoặc phối hợp thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công cụ chuyển nhượng trong phạm vi quản lý của mình.
3. Chính phủ quy định cụ thể việc phối hợp thanh tra theo Điều này.
Điều 81. Xử lý vi phạm
1. Cá nhân vi phạm các quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức vi phạm các quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 82. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006.
2. Pháp lệnh thương phiếu ngày 24 tháng 12 năm 1999 và các văn bản quy phạm pháp luật khác về thương phiếu và séc hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực.
Điều 83. Hướng dẫn thi hành
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI Nguyễn Văn An |
ISBP 681
Đăng bởi
Đoàn Ngọc Thắng
on 13 thg 9, 2009
Mục:
Thanh Toán Quốc Tế,
Văn Bản Luật
/
Comments: (0)
TẬP QUÁN NGÂN HÀNG TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ THEO THƯ TÍN DỤNG PHÁT HÀNH SỐ 681, SỬA ĐỔI NĂM 2007 ICC, TUÂN THỦ UCP600 2007 ICC (ISBP 681 2007 ICC)
TẬP QUÁN NGÂN HÀNG TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ THEO THƯ TÍN DỤNG PHÁT HÀNH SỐ 681, SỬA ĐỔI NĂM 2007 ICC, TUÂN THỦ UCP600 2007 ICC (ISBP 681 2007 ICC)
GIỚI THIỆU VỀ ISBP
Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng trong kiểm tra chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ
Tại cuộc họp vào tháng 5/2000, Ủy ban kỹ thuật và thực hành ngân hàng của phòng thương mại quốc tế (ủy ban ngân hàng của ICC) đã thành lập nhóm công tác để soạn thảo văn bản Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng trong kiểm ra chứng từ xuất trình theo phương pháp tín dụng chứng từ dược ban hành kèm theo tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ do phòng thương mại quốc tế xuất bản số 600(UCP)
Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng thể hiện trong văn bản này là sự nhất quán với UCP cũng như các quan điểm và các quyết định của ủy ban ngân hàng của ucp .Văn bản này không sửa đổi UCP , mà chỉ giải thích rõ ràng cách thực hiện UCP đối với những người làm thực tế liên quan đến tín dụng chứng từ .Tuy nhiên phải thừa nhận là luật lệ cũa một số nước có thể bắt buột áp dụng các tập quán khác với quy định trong văn bản này .
Không một văn bản nào có thể lường trước hết được tất cả các điều khoản hay chứng từ được sử dụng liên quan đến tín dụng cứng từ hoặc việc giải thích các chứng từ theo UCP và theo tiêu chuẩn thực hành mà nó phản ánh .Tuy nhiên , khi soạn thảo văn bản này , nhóm soạn thảo văn bản đã cố gắng đề cập đến tất cả các điều khoản thường hay gặp hàng ngày và những chứng từ thường được xuất trình nhiều nhất trong tín dụng chứng từ
Cần lưu ý rằng , bất cứ điều khoản nào trong tín dụng chứng từ mà có thể thay đổi hay ảnh hưởng đến việc áp dụng một điều khoản của UCP cũng có thể ảnh hưởng đến tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng.Do đó , khi xem xét các tập quán thực hành được quy định trong văn bản này , các bên phải thật cân nhắc đến bất kỳ điều khoản trong tín dụng chứng từ mà nó loại trừ hay thay đổi nội dung được quy định trong một điều khoản của của UCP .Nguyên tắc này là xuyên suốt trong toàn bộ văn bản này , cho dù được nói ra hay không , nhưng đôi khi nó cũng nhắc lại nhằm mục đích nhấn mạnh hay minh chứng .
Văn bản này phản ánh tiêu chuẩn quốc tế về thực hành tín dụng chứng từ cho tất cả các bên liên quan đến tín dụng chứng từ .Khi mà quyền lợi , nghĩa vụ và biện pháp hạn chế tổn thất đối với người mở tín dụng phụ thuộc vào cam kết của họ với ngân hàng phát hành , vào việc thực hiện giao dịch cơ sở và vào bất kỳ sự từ chối đúng hạn nào theo luật lệ và tập quán áp dụng , cho nên người người mở tín dụng không được cho rằng họ có thể dựa vào các điều khoản này để thoái thác nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng phát hành .Việc gắn kết các văn bản này vào các điều khoản của tín dụng chứng từ là không nên , vì trong UCP việc tuân thủ các tấp quán đã thỏa thuận là một yêu cầu tuyệt đối .
NỘI DUNG ISBP 681
I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG
1. Các chữ viết tắt:
“LtD” – “Limited”
“ Int L” – “ International”
“ Co.” – “ Company”
“ kgs” – “ Kilos”
“Ind” – “ Industry”
“ mfr” – “ manufacturer”
“mt” – “ metric tons”
2. Những chứng nhận và lời khai:
Một sự chứng nhận và lời khai hoặc các từ tương tự có thể là:
+ Một chứng từ riêng biệt
+ Một sự chứng nhận hoặc lời khai trong chứng từ khác do thư tín yêu cầu.
3. Những sửa chữa và thay đổi:
a. Những sửa chữa và thay đổi hoặc số liệu trong chứng từ mà không phải do người thụ hưởng tạo lập thì phải có xác nhận của người phát hành chứng từ hoặc người được phát hành ủy quyền thực hiện. Đồng thời việc xác nhận, chứng thực đó phải thể hiện rõ chữ ký, tên của người tiến hành chứng thực; nếu không phải chỉ rõ tư cách của người chứng thực đó.
b. Nếu những sửa chữa và thay đổi trong các chứng từ do bản thân người thụ hưởng phát hành thì không phải chứng thực, xác nhận( trừ hối phiếu).
c. Nếu một chứng từ có nhiều sửa chữa và thay đổi thì có thể xác nhận một cách riêng lẻ hoặc là xác nhận chung gắn liền với các sửa chữa tương ứng.
4. Ngày tháng:
a. Các hối phiếu, chứng từ vận tải, các chứng từ bảo hiểm đều phải ghi rõ ngày tháng. Ngoài ra các chứng từ khác có yêu cầu ghi ngày thàng hay không sẽ phụ thuộc vào tính chất và nội dung chúng từ đó.
b. Tùy thuộc vào Thư tín dụng yêu cầu một chứng từ xác minh việc giám định trước khi giao hàng hay sau khi giao hàng mà các chứng từ bao gồm: giấy chứng nhận phân tích, giấy chứng nhận giám định phải chỉ rõ ra công việc giám định được thực hiện trước, trong hay sau ngày giao hàng.
c. Nếu ngày tạo lập sớm hơn ngày ký thì ngày ký được coi là ngày xác nhận chứng từ.
d. Từ “ within” khi dùng liện quan đến một ngày không bao gồm ngày đó trong thanh toán kỳ hạn.
e. Các ngày tháng có thể diễn giải theo các hình thức khác nhau.Ví dụ: te 12th of November 2007, 12 Nov 2007,…
5. Các chứng từ mà các điều kiện về vận tải trong UCP 600 không điều chỉnh:
a. Một số chứng từ có liên quan đến vận tải hàng hóa như: Lệng giao hàng, biên lai nhận àng của người giao nhận,… nhưng không phải là chứng từ đề cập trong các điều từ 19 đến 25 của UCP 600 thì sẽ được kiểm tra theo cách thức chung như các chứng từ khác mà UCP 600 không có điều chỉnh.
b. Các bản sao các chứng từ vận tải không được coi như chứng từ vận tải thực sự trong các Điều 19 – 25 và 14(c) của UCP 600.Nếu như Thư tín dụng chấp nhận các bản sao thì Thư tín dụng đó phải quy định chi tiết rõ ràng.
6. Các thuật ngữ không được định nghĩa trong UCP 600:
Theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế:
a. “ Chứng từ gửi hàng” là tất cả các chứng từ do Thư tín dụng yêu cầu( trừ Hối phiếu).
b. “ Các chứng từ đến chậm có thể chấp nhận” là chứng từ xuất trình sau 21 ngày dương lịch kể từ ngày giao hàng nhưng phải xuất trình không muộn hơn ngày hết hạn xuất trình quy định trong Thư ín dụng.
c. “ Chứng từ bên thứ ba có thể chấp nhận” là tất cả các chứng từ kể cả hóa đơn, trừ hối phiếu có thể ký phát bởi một bên mà bên đó không phải người thụ hưởng. Nếu ý định của ngân hàng phát hành là cho phép chứng từ vận tải có thể thể hiện người gửi hàng mà không phải là người thụ hưởng thì điều khoản này không cần thiết bởi vì Điều khoản 14(k) UCP 600 đã cho phép.
d. “ Nước xuất khẩu” là nước mà tại đó người thụ hưởng cư trú hoặc là nước xuất xứ của hàng hóa, hoặc là nước mà người chuyên chở nhận hàng hoặc là nước mà tại đó hàng được gửi đi.
7. Người phát hành chứng từ:
Tùy theo yêu cầu của Thư tín dụng rằng có hay không: một chứng từ là phải do một tổ chức hay một cá nhân đích danh phát hành. Nếu có thì nó được thể hiện bằng cách: sử dụng tiêu đề trên chứng từ, hay chứng từ phải thể hiện là đã được lập hoặc ký bởi hoặc thay mặt tổ chức hoặc cá nhân đích danh đó.
8. Ngôn ngữ:
Các chứng từ do người thụ hưởng phát hành phải bằng ngôn ngữ của Thư tín dụng.Nếu Thư tín dụng quy định có thể chấp nhận hai hay nhiều ngôn ngữ thì ngân hàng chỉ định khi thông báo Thư tín dụng có thể hạn chế số lượng ngôn ngữ có thể chấp nhận như là một điều kiện cam kết trong Thư tín dụng hoặc xác nhận.
9. Tính toán:
Các ngân hàng chỉ có nghĩa vụ kiểm tra tổng giá trị so với Thư tín dụng và chứng từ khác.
10. Lỗi chính tả hoặc đánh máy:
Nếu lỗi chính tả hoặc đánh máy không làm ảnh hưởng đến nghĩa của từ hoặc của câu thì có thể chấp nhận được. Ví dụ : “ mashine” thay vì “ machine”, “foutain pen” thay vì “ fountain pen”… Nhưng “ model 123” thay vì “ model 321” thì không được.
11. Các chứng từ nhiều trang và kèm theo hoặc các phụ lục:
a. Trừ khi Thư tín dụng quy định hoặc một chứng từ quy định khác,các trang được gắn kết tự nhiên với nhau, đánh số liên tiếp nhau hoặc phải có chỉ dẫn tham khảo bên trong. Nếu chứng từ có nhiều trang, thì nó phải có khả năng xác nhận các trang đó là bộ phận của cùng một chứng từ.
b. Nếu Thư tín dụng hoặc bản thân chứng từ không quy định nơi phải ký hoặc ký hậu trên chứng từ gồm nhiều trang thì thông thường chữ ký phải ở trên trang đầu hoặc trang cuối của chứng từ.
12. Bản gốc và bản sao:
a. Các chứng từ được phát hành hơn một bản gốc trên bề mặt có thể ghi chú: “ Bản gốc đầu tiên”, “ Hai bản gốc như nhau”, “ Bản gốc thứ nhất”, …
b. Số lượng bản gốc xuất trình ít nhất phải bằng số lượng mà Thư tín dụng yêu cầu, hoặc nếu chứng từ tự chỉ rõ phát hành bao nhiêu bản gốc thì số lượng phải bằng số lượng đã ghi trên chứng từ.
c. Nếu Thư tín dụng không yêu cầu rõ ràng bản gốc hay bản sao thì có thể hiểu như một số trường hợp sau:
+ “Hóa đơn”, “ Một hoá đơn” hoặc “ Hóa đơn một bản” thì phải hiểu là yêu cầu một bản gốc hóa đơn.
+ “ Hóa đơn 4 bản” thì phải hiểu ít nhất 1 bản gốc hóa đơn và số còn lại là bản sao.
+ “ Một bản hóa đơn” thì phải hiểu hoặc là một bản sai, hoặc là một bản gốc hóa đơn.
d. Trong trường hợp bản gốc không được chấp nhận để thay cho một bản sao, thì Thư tín dụng phải cấm dùng bản gốc.
e. Các bản sao của chứng từ không cần thiết phải ký.
13. Ký mã hiệu:
a. Nếu Thư tín dụng quy định chi tiết về ký mã hiễu thì các chứng từ đề cập để ký mã hiệu phải ghi những chi tiết đó, nhưng thông tin bổ sung có thể chấp nhận, miễn là nó khôngma6u thuẫn với các điều khoản của Thư tín dụng.
b. Nếu chứng từ vận tải sử dụng trong vận chuyển hàng hóa bằng container đôi khi chỉ ghi số container dưới đầu đề “ ký mã hiệu”. Các chứng từ khác lại ghi mã hiệu chi tiết thì điều này cũng không coi là có sự mâu thuẫn, có thể chấp nhận được.
14. Các chữ ký:
a. Các hối phiếu, các giấy chứng nhận, các tờ khai, các chứng từ vận tải và chứng từ bảo hiểm đều phải được ký phù hợp với quy định của UCP 600.
b. Nếu nội dung của một chứng từ chỉ ra rằng phải ký thì mới có giá trị thì chứng từ phải được ký.
c. Chữ ký có thể bằng tay, bằng Fax, bằng đục lỗ, bằng đóng dấu, bằng ký hiệu hoặc bằng bất kỳ phương tiện điện tử hay cơ khí chân thực nào đều có giá trị.
d. Chữ ký trên tờ giấy có tiêu đề của công ty sẽ được coi là chữ ký của chính công ty đó, trừ khi có quyết định khác. Tên công ty không cần thiết phải nhắc lại bên cạnh chữ ký.
15. Tên của các chứng từ và chứng từ kết hợp:
a. Các chứng từ có thể được đặt tên theo yêu cầu của Thư tín dụng, mang 1 tên tương tự hoặc không có tên và nội dung của nó phải thể hiện được chức năng của chứng từ.
b. Các chứng từ được liệt kê trong Thư tín dụng phải được xuất trình như các chứng từ riêng biệt.
II. HỐI PHIẾU VÀ CÁCH TÍNH NGÀY ĐÁO HẠN.
1. Thời hạn:
Thời hạn: Phải phù hợp với các điều kiện trong L/C.
a) Nếu một hối phiếu được ký phát có thời hạn ,thì ngày đáo hạn của nó phải được xác định từ bản than hối phiếu đó.
b) Nếu L/C quy định hối phiếu có thời hạn 60ngày kể từ ngày vận tải đơn .nếu ngày vận tải đơn là 7/7/2007,thì thời hạn :
+ 60 ngày sau ngày vận tải đơn 7/7/2007
+ 60 ngày sau ngày 7/7/2007
+5/9/2007
+…
c) Nếu Thời hạn là xxx ngày sau ngày vận tải đơn thì ngày hang bốc lên tàu được coi là ngày vận tải đơn ,ngay cả khi ngày bốc hang lên tàu là trước hoặc sau ngày vạn tải đơn.
d) Cách tính ngày đáo hạn là ngày tiếp theo,ví dụ 10 ngày sau hoặc twd ngày 1/3laf ngày 11/3.
e) Nếu một vận tải đơn thể hiện nhiều ghi chú bốc hang lên tàu xuất trình theo một L/C yêu cầu hối phiếu ký phát, ví dụ 60 ngày sau ngày vận tải đơn,thì ngày sớm nhất được dung để tính ngày đáo hạn.Vd:L/C yêu cầu giao hàng ở cảng ở Việt Nam,và vận tải đơn ghi chú hang đã bốc lên tàu A từ cảng Nhơn Trạch(Đồng Nai) ngày 1/5 và lên tàu B ở cảng Hải Phòng ngày 15/5 ,thì hối phiếu sẽ được tính là 60 ngày sau ngày 1/5.
f) Nếu L/C yêu cầu hối phiếu ký phát ,và nhiều bộ vận đơn được xuất trình theo một hối phiếu ,thì ngày vận tải đơn cuối cùng được dung để tính ngày đáo hạn.
Các chứng từ vận tải khác cũng áp dụng nguyên tắc như vậy.
2. Ngày đáo hạn:
Nếu một hối phiếu quy định ngày đáo hạn là một ngày cụ thể thì nó phải phù hợp trong L/C.
Nếu một hối phiếu được ký phát xxx ngày sau ngày xuất trình:
a) Chừng từ phù hợp hay không phù hợp nhưng ngân hàng trả tiền không thong báo từ chối ,thì Ngày đáo hạn là xxx ngày từ ngày ngân hàng này nhận được chứng từ.
b) Nếu ngân hàng trả tiền từ chối và sau đó chấp nhận thì Ngày đáo hạn là xxx ngày là muộn nhất sau ngày ngân hàng này chấp nhận hối phiếu.
Ngân hàng trả tiền phải thông báo ngày đáo hạn cho người xuất trình ,việc tính Ngày đáo hạn cũng sẽ áp dụng với L/C thanh toán về sau.
3. Ngày ngân hàng, ngày gia hạn, chuyển tiền chậm.
Việc thanh toán phải được thực hiện ngay vào ngày đến hạn tại nơi mà hối phiếu hoặc các chứng từ đòi tiền,miễn là trong ngày làm viêc của ngân hàng,nếu ngoài thì sẽ là ngày làm việc đầu tiên sau ngày đến hạn.
4. Ký hậu
Hối phiếu phải được ký hậu nếu cần thiết.
5. Số tiền
Tên bằng chữ và số phải bằng nhau,ghi bằng đơn vị tiền tệ trong L/C.
Phù hợp với hóa đơn,(nếu lớn hơn thì phải có sự đồng ý lien quan giữa các bên
6. Hối phiếu được ký phát như thế nào:
Hối phiếu phải được ký phát đòi tiền bên đã được quy định trong L/C
Người thụ hưởng ký phát.
7. Hối phiếu đòi tiền người yêu cầu:
8. Các sữ chữa và thay đổi:
Sữa chữa và thay đổi nếu có thì phải được người ký phát ký xác nhận
Nếu ngân hàng ghi chú trong L/C về việc không cho phép sữa chữa trong L/C thì việc sữa chữa và thay đổi không được chấp nhận ngay cả khi được người ký phát xác nhận.
III. HÓA ĐƠN
A. Định nghĩa:
Một Thư tín dụng yêu cầu 1 “hóa đơn” mà không giải thích thêm thì bất cứ các loại hóa đơn nào xuất trình đều có thể đáp ứng yêu cầu. Ví dụ : hóa đơn thương mại, hóa đơn hải quan, … Tuy nhiên hóa đơn “tạm thời”, “chiếu lệ” hoặc tương tự là không được chấp nhận.
B. Mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện và nhưng yêu cầu chung có liên quan đền hóa đơn.
Mô tả hàng hóa dịch vụ và các thực hiện trong hóa đơn phải phù hợp với mô tả trong Thư tín dụng.
Mô tả hàng hóa dịch vụ và các thực hiện trong hóa đơn phải phản ánh hàng hóa nào thực sự đã được giao hoặc đã được cung ứng. 1 hóa đơn mô tả toàn bộ hàng hóa như qui định trong Thư tín dụng sau đó ghi rõ là nhưng hàng nào đã được giao, cũng có thể chấp nhận được.
Một hóa đơn phải kê khai giá trị hàng hóa đã giao hoặc dịch vụ hoặc các thực hiện đã được cung ứng. Đơn giá, nếu có, và đồng tiền ghi trong hóa đơn phải phù hợp với đồng tiền trong Thư tín dụng. Hóa đơn phải thể hiện mọi chiết khấu và giảm giá đã được yêu cầu trong thư tín dụng.
Nếu điều kiện thương mại là 1 bộ phận của mô tả hàng hóa trong Thư tín dụng hoặc được ghi gằn liền với số tiền, thì hóa đơn phải ghi rõ điều kiện thương mại đó và nếu mô tả hàng hóa chỉ ra nguồn của các điều kiện thương mại, thì nó phãi chĩ rõ nguồn của các thương mại đó.
Trừ khi Thư tín dụng yêu cầu, hóa đơn không cần thiết phải ký và ghi ngày.
Số lượng, trọng lượng vả thể tích hàng hóa kê khai trong hóa đơn ko mâu thuẫn với kê khai trong chứng từ khác.
Hóa đơn không được thực hiện:
Nếu giao hàng hóa vượt quá hoặc không được yêu cầu trong Thư tín dụng. Ví dụ: hàng mẫu, vật phẩm quảng cáo thì hóa đơn không được thể hiện điều đó, ngay cả khi nói rõ là miễn phí.
Số lượng hàng hóa yêu cầu trong thư tín dụng có thể thay đổi trong 1 dung sai +/- 5% ( ngoại trừ những Thư tín dụng qui định số lượng không được tăng hoặc giảm; hoặc đơn vị tính là bao, gói …).Một sự thay đổi tăng lên +5% về số lượng hàng hóa không cho phép số tiền thanh toán vượt quá số tiền của Thư tín dụng.
Ngay cả khi cấm giao hàng từng phần, thì dung sai kém 5% trên số tiền của hóa đơn là được chấp nhận. Nếu Thư tín dụng không qui định số lượng thì hóa đơn coi như thanh toán cho toàn bộ số lượng.
Nếu Thư tín dụng yêu cầu giao hảng nhiều lần thì mỗi lần giao hàng phải phù hợp với lịch trình giao hàng.
IV. CHỨNG TỪ VẬN TẢI DÙNG CHO ÍT NHẤT HAI PHƯƠNG THỨC VẬN TẢI KHÁC NHAU
Áp dụng điều 19 UCP 600
Phần này cho biết:
Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau gọi là Chúng Từ Vận Tải Liên Hợp hoặc Đa Phương Thức ; chỉ rõ rằng nó dùng để chuyên chở hàng từ nơi nhận hàng để chở hoặc từ cảng biển, sân bay hoặc từ nơi xếp hàng tới nơi đến cuối cùng quy định trong Thư tín dụng. Nếu một Thư tín dụng yêu cầu xuất trình chúng từ này thì sẽ áp dụng Điều 19 UCP 600. Khi đó, trong chứng từ không cần phải đề cập đến phương tiện vận tải chở nhưng cấm không được ghi là việc giao hàng chỉ do một phương thức vận tải thực hiện.
Thuật ngữ “chứng từ vận tải đa phương thức” và thuật ngữ”chúng từ vận tải liên hợp” là như nhau.
Một chứng từ không cần phải có tiếu đề “chứng từ vận tải đa phương thức” hoặc “chứng từ vận tải liên hợp”theo Điều 19 UCP 600 .
Bộ đầy đủ các bản gốc
Điều 19 UCP 600 có quy định số lượng các bản gốc phát hành:
Các chứng từ vận tải có ghi chú “ Bản gốc thứ nhất”, “Bản gốc thứ hai”, “bản gốc thứ ba”, “ Bản gốc đầu tiên”, “Hai bản gốc như nhau”, “Ba bản gốc như nhau” v.v… hoặc các ghi chú tương tự đều là các bản gốc.
Chứng từ vận tải đa phương thức không cần thiết phải có chữ “ Original” mới được chấp nhận theo Thư tín dụng.
Ký chứng từ vận tải đa phương thức
Mục 19(a)(i) UCP 600 quy định các bản gốc của chứng từ vận tải đa phương thức phải được ký bởi người chuyên chở đã được nhận biết. Người chuyên chở có thể là:
Đại lý thay mặt cho người chuyên chở ký chứng từ vận tải đa phương thức: phải được nhận biết là người đại lý và phải nói rõ là ký thay mặt ai, nếu người chuyên chở đã được nhận biết ở nơi nào khác trên chứng từ thì không cần ghi.
Thuyền trưởng ký chứng từ vận tải đa phương thức : chữ ký phải được nhận biết là của thuyền trưởng và không cần phải ghi tên của thuyền trưởng.
Đại lý thay mặt thuyền trưởng ký chứng từ vận tải đa phương thức : đại lý phải được nhận biết là đại lý và không cần phải ghi tên của thuyền trưởng.
Nếu một Thư tín dụng quy định “ Chứng từ vận tải đa phương thức của người giao nhận là có thể chấp nhận” thì chứng từ này có thể do người giao nhận ký với tư cách của người giao nhận mà không cần thiết phải ghi là đại lý cho người chuyên chở đích danh và không cần thiết phải ghi tên của người chuyên chở.
Những ghi chú đã bốc hàng :
Phần này quy định ngày giao hàng và các ghi chú trên chứng từ
Thông thường ngày phát hành chứng từ vận tải đa phương thức sẽ được coi là ngày gửi hàng , ngày nhận hàng để chở hoặc ngày bốc hàng lên tàu trừ khi có ghi chú riêng biệt về ngày gửi hàng, nhận hàng để chở hoặc bốc hàng lên tàu từ một địa điểm quy định trong Thư tín dụng và trong trường hợp này ngày bốc hàng lên tàu sẽ được coi là ngày giao hàng dù ngày này có thể xảy ra hay không xảy ra trước hoặc sau ngày phát hành chứng từ.
Trên chứng từ, nếu có ghi là: “ Hàng đã bốc lên tàu nhìn bề ngoài ở trong điều kiện tốt”, “Đã bốc hàng lên tàu”, “Hàng đã bốc hoàn hảo” hoặc các cụm từ nào có từ “đã bốc”, “trên tàu” thì đều có nghĩa là “đã bốc hàng lên tàu”
Nơi nhận hàng để chở, gửi hàng, bốc hàng lên tàu và nơi đến
Khi Thư tín dụng quy định rằng : nơi nhận hàng để chở, gửi hàng, bốc hàng lên tàu và nơi đến là một khu vực địa lý ví dụ như bất kì cảng Châu Âu nào thì chứng từ vận tải đa phương thức phải ghi rõ địa điểm cụ thể mà địa điểm đó phải nằm trong khu vực địa lý hoặc trong loạt các cảng đã được quy định trong Thư
Người nhận hàng, bên ra lệnh, người gửi hàng và ký hậu, bên thông báo
Nếu Thư tín dụng yêu cầu:
Hàng hóa phải được giao cho một người được chỉ định hay còn gọi là giao hàng đích danh ví dụ “giao cho Ngân hàng X” thì chúng từ vận tải đa phương thức không cần có chữ: “theo lệnh”hoặc “theo lệnh của” đứng trước tên của người được chỉ định ví dụ “giao theo lệnh của Ngân hàng X”
Hàng hóa được giao “theo lệnh”hoặc “theo lệnh của” một người được chỉ định ví dụ “ theo lệnh của Ngân hàng X” thì chúng từ vận tải đa phương thức không được ghi là giao hàng hóa cho người được chỉ định ví dụ “giao cho Ngân hàng X”
Người gừi hàng hoặc một người nhân danh người gửi hàng phải ký hậu chúng từ vận tải đa phương thức nếu nó được phát hành theo lệnh của người gửi hàng.
Nếu Thư tín dụng không quy định vế việc thông báo cho ai thì ô thông báo trên chứng từ vận tải đa phương thức có thể để trống hoặc tìm mọi cách để điền vào
Chuyển tải và giao hàng từng phần
Trong vận tải đa phương thức chuyển tải sẽ xảy ra vì phải dở hàng xuống rồi lại phải bốc lên từ phương tiện vận tải này sang phương tiện khác trong suốt hành trình vận chuyển.
Nếu trong L/C cấm giao hàng từng phần có nhiều bộ chứng từ vận tải đa phương thức thực hiện việc bốc hàng,gửi hàng và nhận hàng để chở từ một nhiều nơi xuất phát được xuất trình( do có sự cho phép hay L/C quy định thì các chứng từ đó sẽ được chấp nhận, miễn là nó chứng minh được là hàng hóa trên cùng một phương tiện vận chuyển ,cùng một hành trình chuyên chở và cùng nơi đến. Nếu chúng có ngày giao hàng ,gửi hàng,nhận hàng để chở khác nhau thì thời hạn xuất trình chứng từ là ngày muộn nhất trong các ngày đó.
Khi giao hàng trên nhiều phương tiện vận tải thì đó là giao hàng từng phần, cho dù chúng xuất phát cùng ngày và chở đến cùng một nơi
Chứng từ vận tải đa phương thức hoàn hảo
Nếu ghi chú về tình trạng khuyết tật của hàng hóa,bao bì trên các chúng từ vận tải đa phương thức là điều không thể chấp nhận,ví dụ như bao bì không phù hợp cho hành trình là không được. Nhưng khi bạn ghi là bao bì có thể không phù hơp cho vận chuyển thì có thể chấp nhận.
Nếu từ “hoàn hảo” trên chưng từ bị xóa đi,thì điều đó không nghĩa là đó là ghi chú hay không hoàn hảo, trừ khi nó có điều khoản hay ghi chú nói rõ là hàng hóa hay bao bì có khuyết tật
Mô tả hàng hóa
Mô tả hàng hóa trên chứng từ vận tải đa phương thức có thể chung chung, miễn là không mâu thuẩn với L/C
Những sửa chữa và thay đổi
Những sửa chữa hay thay đổi trên chưng từ phải có xác nhận và phải do người chuyên chở hoặc bất cứ một đại lí nào đó của họ thực hiện ( người này có thể khác với người đại lí đã phát hành hay kí chứng từ vận tải đa phương thức) ,miễn là họ phải thể hiện rõ họ là người đại lí của thuyền trưởng hay của người chuyên chở.
Các bản sao mà có sự sửa đổi thì không cần xác nhận khi đã thực hiện trên bản gốc
Cước phí và phụ phí
Khi L/C yêu cầu chứng từ vận tải đa phương thức ghi rõ cước phí đã trả hay sẽ trả tại cảng đến thì chứng từ phải thực hiện .
Những người yêu cầu hay các ngân hàng phát hành phải yêu cầu rõ chứng từ phải thể hiện cước phí phải trả trước hay sẽ thu sau
Khi L/C không chấp nhận các phụ phí thì chứng từ không được ghi là phụ phí đã hay sẽ thanh toán, ngay cả việc dùng các thuật ngữ giao hàng mà nó liên quan tới các chi phí xếp dở hàng hóa : miễn xếp( FI) , miễn xếp dở và sắp xếp( FIOS) .Còn khi đề cập các chi phí do dở hàng chậm hay phát sinh sau khi hàng hóa đã được dở xuống như chi phí do trả container chậm thì không được xem là phụ phí
Hàng hóa được cấp nhiều chứng từ vận tải đa phương thức
Nếu một chứng từ có ghi là hàng đóng trong container ngoài chứng từ này thì còn nhiều chứng từ khác và phải được giao (hoặc các từ tương tự) thì phải xuất trình cùng lúc theo cùng một L/C để giải tỏa container.Nếu không thì sẽ không được chấp nhận.
V. VẬN TẢI ĐƠN THEO HỢP ĐỒNG THUÊ TÀU
1/Áp dụng điều 22 UCP:
Áp dụng điều 22 UCP 600 trong trường hợp:
Khi hợp đồng vận tải yêu cầu xuất trình vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu
Khi L/C cho phép xuất trình vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu và vận tải dơn theo hợp đồng thuê tàu được xuất trình.
Một chứng từ vận tải chỉ ra là nó phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu thì nò là vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu tuân theo điều 22-UCP 600.
2/ /Điều khoản :vận tải theo hợp đồng thuê tàu phải gồm một bộ đầy đủ các bản gốc :
Các bản gốc có thể được ghi chú là “bản gốc thứ nhất”, ”bản gốc thứ 2”,”hai bản gốc như nhau”,”ba bản gốc như nhau”…hoặc các ghi chú tương tự.
Không nhất thiết trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải có chữ “original” mới được chấp nhận theo L/C.
3//Điều khoản về ký vận đơn theo hợp đồng thuê tàu:
Bản gốc của một vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải có chữ ký theo hình thức quy định tại điều 22-UCP 600.
Nếu vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được ký bởi thuyền trưởng,người thuê tàu hoặc chủ tàu thì chữ ký phải được xác nhận là của những người này.
Nếu vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được ký bởi một đại lý thay mặt thuyền trưởng,người thuê tàu,chủ tàu thì đại lý đó phải được nhận biết:không cần ghi tên của thuyền trưởng nhưng tên người thuê tàu hoặc chủ tàu thì phải được ghi ra.
4//Điều khoản về ghi chú đã bốc hàng lên tàu:
Nếu trên vận tải đơn theo hợp đồng thê tàu ghi “đã bốc hàng”thì ngày phát hành vận đơn được coi là ngày giao hàng,trừ khi trên vận đơn đã có ghi chú về hàng đã bốc thì ngày trong ghi chú về hàng đã bốc đó được coi là ngày giao hàng.
Có nhiếu cách diễn tả “đã bốc hàng lên tàu”,như” hàng đã bốc lên tàu nhìn bề ngoài trong điều kiện tốt”,hay” hàng đã bốc lên tàu”,”đã bốc”… và các cách diễn đạt tương tự.
5//Điều khoản về cảng bốc và cảng dỡ:
Nếu L/C quy định về một khu vực địa lý,một cảng bốc hoặc một cảng dỡ cụ thế thì vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải ghi cảng bốc hàng thực tế mà phải nằm trong khu vực địa lý hoặc trong trong dãy các cảng đã được nêu,nhưng có thể nêu các cảng là cảng dỡ hàng hoặc có thể ghi theo khu vực địa lý.
6/Điều khoản về người nhận hàng ,bên ra lệnh,người gửi hàng và ký hậu,bên thông báo:
Nếu L/ C yêu cầu một vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu ghi hàng hóa được giao cho một bên đích danh thì vận đơn theo hợp đồng thuê tàu không được ghi từ “theo lệnh”,hoặc “theo lện của” trước tên bên đích danh đó.Tương tự,nếu L/C quy định hàng hòa được giao “theo lệnh”,”theo lệnh của” thì không được ghi hàng hóa giao trực tiếp cho bên đích danh trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu.
Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được gửi hàng ký hậu nếu nó được phát hành theo lệnh,hoặc theo lệnh của người gửi hàng.(việc ký hậu cho thấy có thể cho phép thay mặt người gửi hàng.
Nếu L/c không ghi rõ tên người thông báo thì ô bên Thông báo trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu có thể để trống hoặc điền vào tùy ý cách.
7/Điều khoản về vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu hoàn hảo:
Các điều khoản hoặc ghi chú trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu:
Tuyên bố một cách rõ ràng về tình trạng khuyết tật của hàng hóa hoặc bao bì là không thể chấp nhận.
Không tuyên bố rõ ràng về tình trạng khuyết tật cùa bao bì thì không coi là có sai biệt.
Tuyên bố rằng:” bao bì không thích hợp chovận chuyển đường biển “ thì không thể chấp nhận.
Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu sẽ không được coi là hoàn hảo nếu từ “hoàn hảo” ghi trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu và bị xóa đi,trừ khi có một điều khoản hoặc ghi chú nói rõ rằng hàng hóa hoặc bao bì có khuyết tật.
8/Điều khoản về giao hàng từng phần:
Giao hàng trên nhiều con tàu gọi là giao hàng từng phần,ngay cả khi các tàu này khởi hành cùng một ngày để đến cùng một cảng đến.
Nếu L/C cấm giao hàng từng phần và có nhiều vận tải đơn gốc được xuất trình cho lô hàng từ một hay nhiều cảng bốc hàng (cho phép đặc biệt trong khu vực địa lý hoặc các loạt cảng quy định trong L/C (với điều kiện là chúng dùng cho việc giao hàng trên một con tàu ,cùng một hành trình,cùng một cảng dỡ hàng,loạt càng dỡ hàng hoặc khu vực địa lý.
Nếu có nhiều ngày giao hàng khác nhau của nhiều bộ vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được xuất trình thì ngày giao hàng muôn nhất trong các ngày đó sẽ dược dùng để tính bất cứ thời hạn xuất trình nào (ngày đó phải xảy ra hoặc trước ngày giao hàng muộn nhất quy định trong L/C).
9/Điều khoản về mô tả hàng hóa:
Những mô tả hàng hóa trên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được miêu tả không miêu tả với những mâu thuẫn trong L/C.
10/Điều khoản về sửa chữa và thay đổi:
Những sữa chữa và thay đổi trên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được xác nhận ,do người chủ tàu,người thuê tàu,thuyền trưởng hoặc bất cứ đại lý nào của họ.
Không cần phải xác nhận những thay đổi hoặc sửa chữa có thể đã được thể hiện trên bản gốc lên các bản sao vận đơn.
11/Điều khoản về cước phí và phụ phí:
Nếu L/c quy định vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải ghi cước phí đã trả hoặc sẽ trả tại cảng đến thì trên vận đơn đó phài ghi cho phù hợp
Đối với các chứng từ trả trước hoặc sẽ thu sau phải có quy định rõ ràng của người yêu cầu và các ngân hàng phát hành.
Không được ghi các phụ phí lên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu nến L/C quy định không chấp nhận các phụ phí,các phụ phí này đề cập đến chi phí gắn liền với việc xếp dỡ hàng hóa như miễn xếp,miễn dỡ,miễn xếp dỡ,miễn xếp dỡ và sắp xếp.(các chi phí được đề cập trên chứng từ vận tải do dỡ hàng chậm hoặc chi phí sau khi dỡ hàng không được coi là phụ phí theo nghĩa này.
VI. CHỨNG TỪ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
Chứng từ vận tải hàng không là chứng từ được dùng để chuyên chở từ sân bay đến sân bay và được quy định ở điều 23 UCP600.
Nội dung của chứng từ vận tải hàng không:
1. Tiêu đề : “vận tải đơn hàng không” hoặc “ giấy gửi hàng hàng không” hoặc tương tự. Có thể không cần ghi tiêu đề.
Chứng từ vận tải hàng không không phải là giấy chứng nhận quyền sở hữu vì thế không nên phát hành “theo lệnh” hoặc “theo lệnh của” bên đích danh, khi xuất trình chứng từ ghi là được giao cho bên đó vẫn được chấp nhận.
Chứng từ vận tải hàng không phải là bản gốc dành cho người gửi hàng, cho dù thư tín dụng có quy định một bộ đầy đủ bản gốc.
Các bản sao không cần thiết có bất cứ chữ kí nào của người chuyên chở hoặc đại lí hoặc bất cứ xác nhận những thay đổi hoặc sữa chữa nào đã được thực hiện trên bản gốc chứng từ vận tải hàng không.
2. Chứng từ vận tải hàng không chỉ rõ tên của người chuyên chở và được ki bởi: Người chuyên chở hoặc đại lí đích danh cho hoặc thay mặt người chuyên chở.
Trường hợp thư tín dụng tuyên bố “chấp nhận vận tải đơn hàng không gom hàng” hoặc chấp nhận vận tải đơn hàng không của người giao nhận”, hoặc tương tự thì chứng từ vận tải hàng không có thể được kí bởi người giao nhận với tư cach người giao nhận, không cần nêu là người chuyên chở hoặc đại lí đích danh cho người chuyên chở. Trong trường hợp này cũng không cần thiết ghi tên người chuyên chở.
3. Chứng từ vận tải hàng không phải ghi rõ hàng hóa được nhận để chuyên chở.
4. Chứng từ vận tải hàng không phải ghi rõ ngày phát hành. Nếu chứng từ vận tải hàng không không có ghi chú cụ thể về ngày giao hàng thực tế thì ngày phát hành sẽ được tính là ngày giao hàng.
5. Ghi rõ tên sân bay khởi hành và sân bay đến như quy định của thư tín dụng.
Có thể xác định cá sân bay bằng cách sử dụng các ký hiệu viết tắt của Liên hiệp vận tải hàng không quốc tế IATA.
6. Mô tả hnagf hóa trong chứng từ vận tải hàng không có thể mô tả một cách chung chung không mâu thuẫn những mô tả đó trong thư ín dụng.
7. nếu không có dỡ hàng xuống và lại bốc hàng lên giữa hai sân bay trong một hành trình chuyên chở từ sân bay khởi hành đến sân bay đén quy định rong thư tín dụng thì không được xem là chuyển tải.
8. Giao hàng trên nhiều máy bay bất kể có khởi hành cùng ngày đến cùng một sân bay đến là giao hàng từng phần.
9. Trong trường hợp có nhiều chứng từ vận tải hàng không được xuất trình có ngày giao hàng khác nhau thì ngày giao hàng muộn nhất trong các ngày này sẽ được dùng để tính toán thời hạn xuất trình và ngày đó phải xảy ra vào trước ngày giao hàng châm nhất được quy định rtong thư tín dụng.
10. Cước phí vân tải được thể hiện trên chứng từ vận tải hàng không phù hợp với thư tín dụng vào ô riêng biêt in sẵn “cước phí đã trả” hoặc “cước phí sẽ thu sau” hoặc một thuật ngữ hay một chỉ dẫn tương tự.
Phụ phí không bao gồm các chi phí do dỡ hàng chậm hoặc phát sinh sau khi hàng hóa đã được dỡ xuống. Chứng từ vận tải hàng không được thể hiện là phụ phí sẽ có nếu một thư tín dụng quy định là không thể chấp nhận phụ phí.
VII.CÁC CHỨNG TỪ VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT VÀ ĐƯỜNG SÔNG
Áp dụng điều 24 UCP 600.
1/ Bản gốc và bản thứ hai của chứng từ vận tải
- Thư tín dụng yêu cầu chứng từ vận tải đường sắt hoặc đường sông thì chứng từ xuất trình đó được xem như một bản gốc (dù nó có ghi là bản gốc hay không).
- Chứng từ vận tải đường bộ phải chỉ ra rằng nó là bản gốc dành cho người gửi,người giao hàng hoặc không có ghi chú là chứng từ gửi cho ai.
-
2/ Người chuyên chở,việc ký các chứng từ đường bộ,đường sắt,đường sông:
Người chuyên chở bao gồm :
+ Người chuyên chở phát hành
+ Người chuyên chở kế tiếp
+ Người chuyên chở thực tế
+Người chuyên chở hợp đồng
Nếu người chuyên chở hay đại lý thay mặt người chuyên chở đã ký chứng từ vận tải thì “người chuyên chở” không cần thiết phải thể hiện ở bên chữ ký nếu có thể xác minh cách khác được người chuyên chở.
Việc đóng dấu,ký,ghi chú tiếp nhận trên chứng từ vận tải phải chứng minh đượ là do người chuyên chở đích thực hoặc một đại lý đích danh hoạt động và ký nhân danh người chuyên chở.( Phải chỉ ra được năng lực của người chuyên chở).
3/Các vấn đề khác
- Các chứng từ không phải là chứng từ về quyền sở hữu thì không nên phát hành “theo lệnh” hoặc “theo lệnh của” một bên đích danh.Các chứng từ đó có thể ghi hàng hóa giao thẳng cho bên kia.
- Giao hàng từng phần là hình thức giao hàng trên nhiều phương tiện chuyên chở (nhiều ô tô, nhiều tàu hỏa, nhiều tàu sông…) ngay cả khi các phương tiện này khởi hành cùng một ngày và đến cùng một địa điệm giao hàng.
- Hàng hóa có thể được mô tả một cách chung chung, không mâu thuẩn với quy định mô tả hàng hóa trong thư tín dụng.
- Các sửa chữa và thay đổi trên chứng từ vận tải phải đươc xác nhận bởi người chuyên chở hoặc bất cứ đại lý đích danh nào của họ. Đại lý này không phải là người phát hành hoặc ký chứng từ đó.
- Các bản sao không nhất thiết phải có sự xác nhận về việc sửa chữa đã được thay đổi trên bản gốc.
- Chứng từ phải được ghi chú cho phù hợp nếu thư tín dụng yêu cầu phải ghi cước phí đã trả hoặc có thể được trả tại nơi đến.
- Cần phải quy định cụ thể các yêu cầu đối với các chứng từ ghi cước phí phải được trả trước hoặc sẽ thu sau.
VIII. TÌM HIỂU VỀ CHỨNG TỪ BẢO HIỂM :
1. Khái niệm bảo hiểm và chứng từ bảo hiểm:
Bảo hiểm:
Bảo hiểm là một chế độ cam kết bồi thường về mặt kinh tế trong đó người được bảo hiểm (insured) có trách nhiệm phải đóng một khoảng tiền gọi là phí bảo hiểm (insurance premium) cho đối tượng được bảo hiểm (subject_matter insured) theo các điều kiện bảo hiểm (insurance conditions) đã được quy định. Ngược lại người bảo hiểm (insurer) có trách nhiệm bồi thường những tổn thất của đối tượng bảo hiểm cho các rủi ro đã bảo hiểm gây nên.
Chứng từ bảo hiểm:
Những chứng từ dùng để xác nhận đã kí kết một hợp đồng bảo hiểm và các điều khoản của hợp đồng đó, xác nhận việc trả phí bảo hiểm, thừa nhận hợp đồng bảo hiểm trên có hiệu lực và là chứng từ cần thiết khiếu nại hãng bảo hiểm để nhận tiền bồi thường bảo hiểm thì được gọi là chứng từ bảo hiểm.
Chứng từ bảo hiểm bao gồm:Đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, tờ khai theo hợp đồng bảo hiểm bao, tất cả phải do một công ty hoặc một người bảo hiểm cấp, nếu là đại lý hoặc người được ủy quyền của họ kí phát phải ghi rõ đại lý hoặc người được ủy quyền đã kí thay, thay mặt công ty hoặc người bảo hiểm đã kí.
Nếu chứng từ bảo hiểm được phát hành từ 2 bản gốc trở lên thì phải xuất trình tất cả.
Phiếu bảo hiểm tạm thời sẽ không được chấp nhận khi xuất trình và khi có khiếu nại.Ngày phát hành chứng từ bảo hiểm không muộn hơn ngày giao hàng.
2. Nội dung của đơn bảo hiểm:
Các điều khoản quy định trách nhiệm người bảo hiểm và người được bảo hiểm theo từng điều kiện bảo hiểm (các điều này thường được in sẵn).
Các điều khoản riêng biệt của hợp đồng bảo hiểm thường được kí kết:
Đối tượng được bảo hiểm: tên hàng, số lượng, kí mã hiệu, phương tiện chuyên chở.
Về giá trị bảo hiểm: nếu không quy định trong tín dụng về mức bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm tối thiểu bằng giá trị hàng hóa tính theo CIF hoặc CIP cộng 10% lời dự tính.
Nếu kinh doanh theo CIP thì mức bồi thường bảo hiểm là 110%CIP
Nếu kinh doanh theo CIF thì mức bồi thường bảo hiểm là 110%CIF
Khi trị giá CIP và CIF không xác định được thì dựa vào số tiền thanh toán hoặc tổng giá trị lô hàng, tùy theo số tiền nào lớn hơn.
Đồng tiền bảo hiểm phải thể hiện bằng đồng tiền ghi trên hợp đồng hoặc L/C
Phải quy định rõ loại bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm: AR, WA, EPA, SRCC…Nếu đơn bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm mọi rủi ro mà có một chứng từ bảo hiểm không đề cập đến hay có ghi chú tiêu đề “mọi rủi ro”thì vãn được xem là chứng từ bảo hiểm mọi rủi ro.
Tổng số phí bảo hiểm phải trả.
Địa điểm hàng hóa bắt đầu được bảo hiểm và nơi hết trách nhiệm bảo hiểm như quy định trong tín dụng.
Giấy chứng nhận bảo hiểm: là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm để chấp nhận bảo hiểm cho một lô hàng nào đó.
Giấy chứng nhận bảo hiểm có tác dụng :
Thay thế đơn bảo hiểm, làm bằng chứng về một bảo hiểm được kí kết.
Bằng chứng về phạm vi được bảo hiểm của hàng hóa, là chứng từ cần thiết trong hồ sơ khiếu nại bao gồm những điều gần giống như đơn bảo hiểm.
IX. GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ
Yêu cầu cơ bản
Yêu cầu đối với giấy chứng nhận xuất xứ sẽ đươc đáp ứng khi xuất trình chứng từ đã ký và ghi ngày tháng xác nhận nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa.
Những người phát hành giấy chứng nhận xuất xứ
Giấy chứng nhận phải do người được qui định trong thư tín dụng phát hành.Tuy nhiên nếu thư tín dụng yêu cầu một giấy chứng nhận xuất xứ do người thụ hưởng,người xuất khẩu hoặc nhà sản xuât phát hành thì một chứng từ do phòng thương mại cấp có thể được chấp nhận.Nếu một thư tín dụng không qui định ai là người phát hành giấy chứng nhận,thì một giấy chứng nhận do bất kỳ ngươi nào phát hành vẫn có thể chấp nhận.
Những nội dung yêu cầu của giấy chứng nhận xuất xứ
Giấy chứng nhận xuất xứ phải thể hiện là có liên quan đến hang hóa trong hóa đơn.Mô tả hàng hóa có thể mô tả chung chung nhưng không mâu thuẩn với mô tả đến hàng hóa ở các chứng từ được yêu cầu.
Thông tin về người nhận hàng phải không mâu thuẫn với chứng từ vận tải.Tuy nhiên,nếu thư tín dụng yêu cầu một chứng từ vận tải phát hành “theo lệnh” thì giấy chứng nhận xuất xứ có thể ghi tên gười yêu cầu phát hành thư tín dụng hoặc người nào khác được chỉ định đích danh như người nhận hàng.
Giấy chứng nhận xuất xứ có thể qui định người gửi hàng,hoặc là người xuất khẩu là một người mà không phải là người hưởng thụ của thư tín dụng hoặc người gửi hàng trong thư tín dụng.
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Giới thiệu về ISBP 1
Nội dung ISBP 681 1
I. Những nguyên tắc chung 2
II. Hối phiếu và cách tính ngày đáo hạn 8
III. Hóa đơn 10
IV. Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất 2 phương thức vận tải khác nhau 12
V. Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu 18
VI. Chứng từ vận tải hàng không 22
VII. Các chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường sông 24
VIII. Tìm hiểu về chứng từ bảo hiểm 25
IX. Giấy chứng nhận xuất xứ 27
TẬP QUÁN NGÂN HÀNG TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ ĐỂ KIỂM TRA CHỨNG TỪ THEO THƯ TÍN DỤNG PHÁT HÀNH SỐ 681, SỬA ĐỔI NĂM 2007 ICC, TUÂN THỦ UCP600 2007 ICC (ISBP 681 2007 ICC)
GIỚI THIỆU VỀ ISBP
Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng trong kiểm tra chứng từ theo phương thức tín dụng chứng từ
Tại cuộc họp vào tháng 5/2000, Ủy ban kỹ thuật và thực hành ngân hàng của phòng thương mại quốc tế (ủy ban ngân hàng của ICC) đã thành lập nhóm công tác để soạn thảo văn bản Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng trong kiểm ra chứng từ xuất trình theo phương pháp tín dụng chứng từ dược ban hành kèm theo tập quán và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ do phòng thương mại quốc tế xuất bản số 600(UCP)
Tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng thể hiện trong văn bản này là sự nhất quán với UCP cũng như các quan điểm và các quyết định của ủy ban ngân hàng của ucp .Văn bản này không sửa đổi UCP , mà chỉ giải thích rõ ràng cách thực hiện UCP đối với những người làm thực tế liên quan đến tín dụng chứng từ .Tuy nhiên phải thừa nhận là luật lệ cũa một số nước có thể bắt buột áp dụng các tập quán khác với quy định trong văn bản này .
Không một văn bản nào có thể lường trước hết được tất cả các điều khoản hay chứng từ được sử dụng liên quan đến tín dụng cứng từ hoặc việc giải thích các chứng từ theo UCP và theo tiêu chuẩn thực hành mà nó phản ánh .Tuy nhiên , khi soạn thảo văn bản này , nhóm soạn thảo văn bản đã cố gắng đề cập đến tất cả các điều khoản thường hay gặp hàng ngày và những chứng từ thường được xuất trình nhiều nhất trong tín dụng chứng từ
Cần lưu ý rằng , bất cứ điều khoản nào trong tín dụng chứng từ mà có thể thay đổi hay ảnh hưởng đến việc áp dụng một điều khoản của UCP cũng có thể ảnh hưởng đến tiêu chuẩn quốc tế về thực hành ngân hàng.Do đó , khi xem xét các tập quán thực hành được quy định trong văn bản này , các bên phải thật cân nhắc đến bất kỳ điều khoản trong tín dụng chứng từ mà nó loại trừ hay thay đổi nội dung được quy định trong một điều khoản của của UCP .Nguyên tắc này là xuyên suốt trong toàn bộ văn bản này , cho dù được nói ra hay không , nhưng đôi khi nó cũng nhắc lại nhằm mục đích nhấn mạnh hay minh chứng .
Văn bản này phản ánh tiêu chuẩn quốc tế về thực hành tín dụng chứng từ cho tất cả các bên liên quan đến tín dụng chứng từ .Khi mà quyền lợi , nghĩa vụ và biện pháp hạn chế tổn thất đối với người mở tín dụng phụ thuộc vào cam kết của họ với ngân hàng phát hành , vào việc thực hiện giao dịch cơ sở và vào bất kỳ sự từ chối đúng hạn nào theo luật lệ và tập quán áp dụng , cho nên người người mở tín dụng không được cho rằng họ có thể dựa vào các điều khoản này để thoái thác nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng phát hành .Việc gắn kết các văn bản này vào các điều khoản của tín dụng chứng từ là không nên , vì trong UCP việc tuân thủ các tấp quán đã thỏa thuận là một yêu cầu tuyệt đối .
NỘI DUNG ISBP 681
I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG
1. Các chữ viết tắt:
“LtD” – “Limited”
“ Int L” – “ International”
“ Co.” – “ Company”
“ kgs” – “ Kilos”
“Ind” – “ Industry”
“ mfr” – “ manufacturer”
“mt” – “ metric tons”
2. Những chứng nhận và lời khai:
Một sự chứng nhận và lời khai hoặc các từ tương tự có thể là:
+ Một chứng từ riêng biệt
+ Một sự chứng nhận hoặc lời khai trong chứng từ khác do thư tín yêu cầu.
3. Những sửa chữa và thay đổi:
a. Những sửa chữa và thay đổi hoặc số liệu trong chứng từ mà không phải do người thụ hưởng tạo lập thì phải có xác nhận của người phát hành chứng từ hoặc người được phát hành ủy quyền thực hiện. Đồng thời việc xác nhận, chứng thực đó phải thể hiện rõ chữ ký, tên của người tiến hành chứng thực; nếu không phải chỉ rõ tư cách của người chứng thực đó.
b. Nếu những sửa chữa và thay đổi trong các chứng từ do bản thân người thụ hưởng phát hành thì không phải chứng thực, xác nhận( trừ hối phiếu).
c. Nếu một chứng từ có nhiều sửa chữa và thay đổi thì có thể xác nhận một cách riêng lẻ hoặc là xác nhận chung gắn liền với các sửa chữa tương ứng.
4. Ngày tháng:
a. Các hối phiếu, chứng từ vận tải, các chứng từ bảo hiểm đều phải ghi rõ ngày tháng. Ngoài ra các chứng từ khác có yêu cầu ghi ngày thàng hay không sẽ phụ thuộc vào tính chất và nội dung chúng từ đó.
b. Tùy thuộc vào Thư tín dụng yêu cầu một chứng từ xác minh việc giám định trước khi giao hàng hay sau khi giao hàng mà các chứng từ bao gồm: giấy chứng nhận phân tích, giấy chứng nhận giám định phải chỉ rõ ra công việc giám định được thực hiện trước, trong hay sau ngày giao hàng.
c. Nếu ngày tạo lập sớm hơn ngày ký thì ngày ký được coi là ngày xác nhận chứng từ.
d. Từ “ within” khi dùng liện quan đến một ngày không bao gồm ngày đó trong thanh toán kỳ hạn.
e. Các ngày tháng có thể diễn giải theo các hình thức khác nhau.Ví dụ: te 12th of November 2007, 12 Nov 2007,…
5. Các chứng từ mà các điều kiện về vận tải trong UCP 600 không điều chỉnh:
a. Một số chứng từ có liên quan đến vận tải hàng hóa như: Lệng giao hàng, biên lai nhận àng của người giao nhận,… nhưng không phải là chứng từ đề cập trong các điều từ 19 đến 25 của UCP 600 thì sẽ được kiểm tra theo cách thức chung như các chứng từ khác mà UCP 600 không có điều chỉnh.
b. Các bản sao các chứng từ vận tải không được coi như chứng từ vận tải thực sự trong các Điều 19 – 25 và 14(c) của UCP 600.Nếu như Thư tín dụng chấp nhận các bản sao thì Thư tín dụng đó phải quy định chi tiết rõ ràng.
6. Các thuật ngữ không được định nghĩa trong UCP 600:
Theo tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế:
a. “ Chứng từ gửi hàng” là tất cả các chứng từ do Thư tín dụng yêu cầu( trừ Hối phiếu).
b. “ Các chứng từ đến chậm có thể chấp nhận” là chứng từ xuất trình sau 21 ngày dương lịch kể từ ngày giao hàng nhưng phải xuất trình không muộn hơn ngày hết hạn xuất trình quy định trong Thư ín dụng.
c. “ Chứng từ bên thứ ba có thể chấp nhận” là tất cả các chứng từ kể cả hóa đơn, trừ hối phiếu có thể ký phát bởi một bên mà bên đó không phải người thụ hưởng. Nếu ý định của ngân hàng phát hành là cho phép chứng từ vận tải có thể thể hiện người gửi hàng mà không phải là người thụ hưởng thì điều khoản này không cần thiết bởi vì Điều khoản 14(k) UCP 600 đã cho phép.
d. “ Nước xuất khẩu” là nước mà tại đó người thụ hưởng cư trú hoặc là nước xuất xứ của hàng hóa, hoặc là nước mà người chuyên chở nhận hàng hoặc là nước mà tại đó hàng được gửi đi.
7. Người phát hành chứng từ:
Tùy theo yêu cầu của Thư tín dụng rằng có hay không: một chứng từ là phải do một tổ chức hay một cá nhân đích danh phát hành. Nếu có thì nó được thể hiện bằng cách: sử dụng tiêu đề trên chứng từ, hay chứng từ phải thể hiện là đã được lập hoặc ký bởi hoặc thay mặt tổ chức hoặc cá nhân đích danh đó.
8. Ngôn ngữ:
Các chứng từ do người thụ hưởng phát hành phải bằng ngôn ngữ của Thư tín dụng.Nếu Thư tín dụng quy định có thể chấp nhận hai hay nhiều ngôn ngữ thì ngân hàng chỉ định khi thông báo Thư tín dụng có thể hạn chế số lượng ngôn ngữ có thể chấp nhận như là một điều kiện cam kết trong Thư tín dụng hoặc xác nhận.
9. Tính toán:
Các ngân hàng chỉ có nghĩa vụ kiểm tra tổng giá trị so với Thư tín dụng và chứng từ khác.
10. Lỗi chính tả hoặc đánh máy:
Nếu lỗi chính tả hoặc đánh máy không làm ảnh hưởng đến nghĩa của từ hoặc của câu thì có thể chấp nhận được. Ví dụ : “ mashine” thay vì “ machine”, “foutain pen” thay vì “ fountain pen”… Nhưng “ model 123” thay vì “ model 321” thì không được.
11. Các chứng từ nhiều trang và kèm theo hoặc các phụ lục:
a. Trừ khi Thư tín dụng quy định hoặc một chứng từ quy định khác,các trang được gắn kết tự nhiên với nhau, đánh số liên tiếp nhau hoặc phải có chỉ dẫn tham khảo bên trong. Nếu chứng từ có nhiều trang, thì nó phải có khả năng xác nhận các trang đó là bộ phận của cùng một chứng từ.
b. Nếu Thư tín dụng hoặc bản thân chứng từ không quy định nơi phải ký hoặc ký hậu trên chứng từ gồm nhiều trang thì thông thường chữ ký phải ở trên trang đầu hoặc trang cuối của chứng từ.
12. Bản gốc và bản sao:
a. Các chứng từ được phát hành hơn một bản gốc trên bề mặt có thể ghi chú: “ Bản gốc đầu tiên”, “ Hai bản gốc như nhau”, “ Bản gốc thứ nhất”, …
b. Số lượng bản gốc xuất trình ít nhất phải bằng số lượng mà Thư tín dụng yêu cầu, hoặc nếu chứng từ tự chỉ rõ phát hành bao nhiêu bản gốc thì số lượng phải bằng số lượng đã ghi trên chứng từ.
c. Nếu Thư tín dụng không yêu cầu rõ ràng bản gốc hay bản sao thì có thể hiểu như một số trường hợp sau:
+ “Hóa đơn”, “ Một hoá đơn” hoặc “ Hóa đơn một bản” thì phải hiểu là yêu cầu một bản gốc hóa đơn.
+ “ Hóa đơn 4 bản” thì phải hiểu ít nhất 1 bản gốc hóa đơn và số còn lại là bản sao.
+ “ Một bản hóa đơn” thì phải hiểu hoặc là một bản sai, hoặc là một bản gốc hóa đơn.
d. Trong trường hợp bản gốc không được chấp nhận để thay cho một bản sao, thì Thư tín dụng phải cấm dùng bản gốc.
e. Các bản sao của chứng từ không cần thiết phải ký.
13. Ký mã hiệu:
a. Nếu Thư tín dụng quy định chi tiết về ký mã hiễu thì các chứng từ đề cập để ký mã hiệu phải ghi những chi tiết đó, nhưng thông tin bổ sung có thể chấp nhận, miễn là nó khôngma6u thuẫn với các điều khoản của Thư tín dụng.
b. Nếu chứng từ vận tải sử dụng trong vận chuyển hàng hóa bằng container đôi khi chỉ ghi số container dưới đầu đề “ ký mã hiệu”. Các chứng từ khác lại ghi mã hiệu chi tiết thì điều này cũng không coi là có sự mâu thuẫn, có thể chấp nhận được.
14. Các chữ ký:
a. Các hối phiếu, các giấy chứng nhận, các tờ khai, các chứng từ vận tải và chứng từ bảo hiểm đều phải được ký phù hợp với quy định của UCP 600.
b. Nếu nội dung của một chứng từ chỉ ra rằng phải ký thì mới có giá trị thì chứng từ phải được ký.
c. Chữ ký có thể bằng tay, bằng Fax, bằng đục lỗ, bằng đóng dấu, bằng ký hiệu hoặc bằng bất kỳ phương tiện điện tử hay cơ khí chân thực nào đều có giá trị.
d. Chữ ký trên tờ giấy có tiêu đề của công ty sẽ được coi là chữ ký của chính công ty đó, trừ khi có quyết định khác. Tên công ty không cần thiết phải nhắc lại bên cạnh chữ ký.
15. Tên của các chứng từ và chứng từ kết hợp:
a. Các chứng từ có thể được đặt tên theo yêu cầu của Thư tín dụng, mang 1 tên tương tự hoặc không có tên và nội dung của nó phải thể hiện được chức năng của chứng từ.
b. Các chứng từ được liệt kê trong Thư tín dụng phải được xuất trình như các chứng từ riêng biệt.
II. HỐI PHIẾU VÀ CÁCH TÍNH NGÀY ĐÁO HẠN.
1. Thời hạn:
Thời hạn: Phải phù hợp với các điều kiện trong L/C.
a) Nếu một hối phiếu được ký phát có thời hạn ,thì ngày đáo hạn của nó phải được xác định từ bản than hối phiếu đó.
b) Nếu L/C quy định hối phiếu có thời hạn 60ngày kể từ ngày vận tải đơn .nếu ngày vận tải đơn là 7/7/2007,thì thời hạn :
+ 60 ngày sau ngày vận tải đơn 7/7/2007
+ 60 ngày sau ngày 7/7/2007
+5/9/2007
+…
c) Nếu Thời hạn là xxx ngày sau ngày vận tải đơn thì ngày hang bốc lên tàu được coi là ngày vận tải đơn ,ngay cả khi ngày bốc hang lên tàu là trước hoặc sau ngày vạn tải đơn.
d) Cách tính ngày đáo hạn là ngày tiếp theo,ví dụ 10 ngày sau hoặc twd ngày 1/3laf ngày 11/3.
e) Nếu một vận tải đơn thể hiện nhiều ghi chú bốc hang lên tàu xuất trình theo một L/C yêu cầu hối phiếu ký phát, ví dụ 60 ngày sau ngày vận tải đơn,thì ngày sớm nhất được dung để tính ngày đáo hạn.Vd:L/C yêu cầu giao hàng ở cảng ở Việt Nam,và vận tải đơn ghi chú hang đã bốc lên tàu A từ cảng Nhơn Trạch(Đồng Nai) ngày 1/5 và lên tàu B ở cảng Hải Phòng ngày 15/5 ,thì hối phiếu sẽ được tính là 60 ngày sau ngày 1/5.
f) Nếu L/C yêu cầu hối phiếu ký phát ,và nhiều bộ vận đơn được xuất trình theo một hối phiếu ,thì ngày vận tải đơn cuối cùng được dung để tính ngày đáo hạn.
Các chứng từ vận tải khác cũng áp dụng nguyên tắc như vậy.
2. Ngày đáo hạn:
Nếu một hối phiếu quy định ngày đáo hạn là một ngày cụ thể thì nó phải phù hợp trong L/C.
Nếu một hối phiếu được ký phát xxx ngày sau ngày xuất trình:
a) Chừng từ phù hợp hay không phù hợp nhưng ngân hàng trả tiền không thong báo từ chối ,thì Ngày đáo hạn là xxx ngày từ ngày ngân hàng này nhận được chứng từ.
b) Nếu ngân hàng trả tiền từ chối và sau đó chấp nhận thì Ngày đáo hạn là xxx ngày là muộn nhất sau ngày ngân hàng này chấp nhận hối phiếu.
Ngân hàng trả tiền phải thông báo ngày đáo hạn cho người xuất trình ,việc tính Ngày đáo hạn cũng sẽ áp dụng với L/C thanh toán về sau.
3. Ngày ngân hàng, ngày gia hạn, chuyển tiền chậm.
Việc thanh toán phải được thực hiện ngay vào ngày đến hạn tại nơi mà hối phiếu hoặc các chứng từ đòi tiền,miễn là trong ngày làm viêc của ngân hàng,nếu ngoài thì sẽ là ngày làm việc đầu tiên sau ngày đến hạn.
4. Ký hậu
Hối phiếu phải được ký hậu nếu cần thiết.
5. Số tiền
Tên bằng chữ và số phải bằng nhau,ghi bằng đơn vị tiền tệ trong L/C.
Phù hợp với hóa đơn,(nếu lớn hơn thì phải có sự đồng ý lien quan giữa các bên
6. Hối phiếu được ký phát như thế nào:
Hối phiếu phải được ký phát đòi tiền bên đã được quy định trong L/C
Người thụ hưởng ký phát.
7. Hối phiếu đòi tiền người yêu cầu:
8. Các sữ chữa và thay đổi:
Sữa chữa và thay đổi nếu có thì phải được người ký phát ký xác nhận
Nếu ngân hàng ghi chú trong L/C về việc không cho phép sữa chữa trong L/C thì việc sữa chữa và thay đổi không được chấp nhận ngay cả khi được người ký phát xác nhận.
III. HÓA ĐƠN
A. Định nghĩa:
Một Thư tín dụng yêu cầu 1 “hóa đơn” mà không giải thích thêm thì bất cứ các loại hóa đơn nào xuất trình đều có thể đáp ứng yêu cầu. Ví dụ : hóa đơn thương mại, hóa đơn hải quan, … Tuy nhiên hóa đơn “tạm thời”, “chiếu lệ” hoặc tương tự là không được chấp nhận.
B. Mô tả hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện và nhưng yêu cầu chung có liên quan đền hóa đơn.
Mô tả hàng hóa dịch vụ và các thực hiện trong hóa đơn phải phù hợp với mô tả trong Thư tín dụng.
Mô tả hàng hóa dịch vụ và các thực hiện trong hóa đơn phải phản ánh hàng hóa nào thực sự đã được giao hoặc đã được cung ứng. 1 hóa đơn mô tả toàn bộ hàng hóa như qui định trong Thư tín dụng sau đó ghi rõ là nhưng hàng nào đã được giao, cũng có thể chấp nhận được.
Một hóa đơn phải kê khai giá trị hàng hóa đã giao hoặc dịch vụ hoặc các thực hiện đã được cung ứng. Đơn giá, nếu có, và đồng tiền ghi trong hóa đơn phải phù hợp với đồng tiền trong Thư tín dụng. Hóa đơn phải thể hiện mọi chiết khấu và giảm giá đã được yêu cầu trong thư tín dụng.
Nếu điều kiện thương mại là 1 bộ phận của mô tả hàng hóa trong Thư tín dụng hoặc được ghi gằn liền với số tiền, thì hóa đơn phải ghi rõ điều kiện thương mại đó và nếu mô tả hàng hóa chỉ ra nguồn của các điều kiện thương mại, thì nó phãi chĩ rõ nguồn của các thương mại đó.
Trừ khi Thư tín dụng yêu cầu, hóa đơn không cần thiết phải ký và ghi ngày.
Số lượng, trọng lượng vả thể tích hàng hóa kê khai trong hóa đơn ko mâu thuẫn với kê khai trong chứng từ khác.
Hóa đơn không được thực hiện:
Nếu giao hàng hóa vượt quá hoặc không được yêu cầu trong Thư tín dụng. Ví dụ: hàng mẫu, vật phẩm quảng cáo thì hóa đơn không được thể hiện điều đó, ngay cả khi nói rõ là miễn phí.
Số lượng hàng hóa yêu cầu trong thư tín dụng có thể thay đổi trong 1 dung sai +/- 5% ( ngoại trừ những Thư tín dụng qui định số lượng không được tăng hoặc giảm; hoặc đơn vị tính là bao, gói …).Một sự thay đổi tăng lên +5% về số lượng hàng hóa không cho phép số tiền thanh toán vượt quá số tiền của Thư tín dụng.
Ngay cả khi cấm giao hàng từng phần, thì dung sai kém 5% trên số tiền của hóa đơn là được chấp nhận. Nếu Thư tín dụng không qui định số lượng thì hóa đơn coi như thanh toán cho toàn bộ số lượng.
Nếu Thư tín dụng yêu cầu giao hảng nhiều lần thì mỗi lần giao hàng phải phù hợp với lịch trình giao hàng.
IV. CHỨNG TỪ VẬN TẢI DÙNG CHO ÍT NHẤT HAI PHƯƠNG THỨC VẬN TẢI KHÁC NHAU
Áp dụng điều 19 UCP 600
Phần này cho biết:
Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau gọi là Chúng Từ Vận Tải Liên Hợp hoặc Đa Phương Thức ; chỉ rõ rằng nó dùng để chuyên chở hàng từ nơi nhận hàng để chở hoặc từ cảng biển, sân bay hoặc từ nơi xếp hàng tới nơi đến cuối cùng quy định trong Thư tín dụng. Nếu một Thư tín dụng yêu cầu xuất trình chúng từ này thì sẽ áp dụng Điều 19 UCP 600. Khi đó, trong chứng từ không cần phải đề cập đến phương tiện vận tải chở nhưng cấm không được ghi là việc giao hàng chỉ do một phương thức vận tải thực hiện.
Thuật ngữ “chứng từ vận tải đa phương thức” và thuật ngữ”chúng từ vận tải liên hợp” là như nhau.
Một chứng từ không cần phải có tiếu đề “chứng từ vận tải đa phương thức” hoặc “chứng từ vận tải liên hợp”theo Điều 19 UCP 600 .
Bộ đầy đủ các bản gốc
Điều 19 UCP 600 có quy định số lượng các bản gốc phát hành:
Các chứng từ vận tải có ghi chú “ Bản gốc thứ nhất”, “Bản gốc thứ hai”, “bản gốc thứ ba”, “ Bản gốc đầu tiên”, “Hai bản gốc như nhau”, “Ba bản gốc như nhau” v.v… hoặc các ghi chú tương tự đều là các bản gốc.
Chứng từ vận tải đa phương thức không cần thiết phải có chữ “ Original” mới được chấp nhận theo Thư tín dụng.
Ký chứng từ vận tải đa phương thức
Mục 19(a)(i) UCP 600 quy định các bản gốc của chứng từ vận tải đa phương thức phải được ký bởi người chuyên chở đã được nhận biết. Người chuyên chở có thể là:
Đại lý thay mặt cho người chuyên chở ký chứng từ vận tải đa phương thức: phải được nhận biết là người đại lý và phải nói rõ là ký thay mặt ai, nếu người chuyên chở đã được nhận biết ở nơi nào khác trên chứng từ thì không cần ghi.
Thuyền trưởng ký chứng từ vận tải đa phương thức : chữ ký phải được nhận biết là của thuyền trưởng và không cần phải ghi tên của thuyền trưởng.
Đại lý thay mặt thuyền trưởng ký chứng từ vận tải đa phương thức : đại lý phải được nhận biết là đại lý và không cần phải ghi tên của thuyền trưởng.
Nếu một Thư tín dụng quy định “ Chứng từ vận tải đa phương thức của người giao nhận là có thể chấp nhận” thì chứng từ này có thể do người giao nhận ký với tư cách của người giao nhận mà không cần thiết phải ghi là đại lý cho người chuyên chở đích danh và không cần thiết phải ghi tên của người chuyên chở.
Những ghi chú đã bốc hàng :
Phần này quy định ngày giao hàng và các ghi chú trên chứng từ
Thông thường ngày phát hành chứng từ vận tải đa phương thức sẽ được coi là ngày gửi hàng , ngày nhận hàng để chở hoặc ngày bốc hàng lên tàu trừ khi có ghi chú riêng biệt về ngày gửi hàng, nhận hàng để chở hoặc bốc hàng lên tàu từ một địa điểm quy định trong Thư tín dụng và trong trường hợp này ngày bốc hàng lên tàu sẽ được coi là ngày giao hàng dù ngày này có thể xảy ra hay không xảy ra trước hoặc sau ngày phát hành chứng từ.
Trên chứng từ, nếu có ghi là: “ Hàng đã bốc lên tàu nhìn bề ngoài ở trong điều kiện tốt”, “Đã bốc hàng lên tàu”, “Hàng đã bốc hoàn hảo” hoặc các cụm từ nào có từ “đã bốc”, “trên tàu” thì đều có nghĩa là “đã bốc hàng lên tàu”
Nơi nhận hàng để chở, gửi hàng, bốc hàng lên tàu và nơi đến
Khi Thư tín dụng quy định rằng : nơi nhận hàng để chở, gửi hàng, bốc hàng lên tàu và nơi đến là một khu vực địa lý ví dụ như bất kì cảng Châu Âu nào thì chứng từ vận tải đa phương thức phải ghi rõ địa điểm cụ thể mà địa điểm đó phải nằm trong khu vực địa lý hoặc trong loạt các cảng đã được quy định trong Thư
Người nhận hàng, bên ra lệnh, người gửi hàng và ký hậu, bên thông báo
Nếu Thư tín dụng yêu cầu:
Hàng hóa phải được giao cho một người được chỉ định hay còn gọi là giao hàng đích danh ví dụ “giao cho Ngân hàng X” thì chúng từ vận tải đa phương thức không cần có chữ: “theo lệnh”hoặc “theo lệnh của” đứng trước tên của người được chỉ định ví dụ “giao theo lệnh của Ngân hàng X”
Hàng hóa được giao “theo lệnh”hoặc “theo lệnh của” một người được chỉ định ví dụ “ theo lệnh của Ngân hàng X” thì chúng từ vận tải đa phương thức không được ghi là giao hàng hóa cho người được chỉ định ví dụ “giao cho Ngân hàng X”
Người gừi hàng hoặc một người nhân danh người gửi hàng phải ký hậu chúng từ vận tải đa phương thức nếu nó được phát hành theo lệnh của người gửi hàng.
Nếu Thư tín dụng không quy định vế việc thông báo cho ai thì ô thông báo trên chứng từ vận tải đa phương thức có thể để trống hoặc tìm mọi cách để điền vào
Chuyển tải và giao hàng từng phần
Trong vận tải đa phương thức chuyển tải sẽ xảy ra vì phải dở hàng xuống rồi lại phải bốc lên từ phương tiện vận tải này sang phương tiện khác trong suốt hành trình vận chuyển.
Nếu trong L/C cấm giao hàng từng phần có nhiều bộ chứng từ vận tải đa phương thức thực hiện việc bốc hàng,gửi hàng và nhận hàng để chở từ một nhiều nơi xuất phát được xuất trình( do có sự cho phép hay L/C quy định thì các chứng từ đó sẽ được chấp nhận, miễn là nó chứng minh được là hàng hóa trên cùng một phương tiện vận chuyển ,cùng một hành trình chuyên chở và cùng nơi đến. Nếu chúng có ngày giao hàng ,gửi hàng,nhận hàng để chở khác nhau thì thời hạn xuất trình chứng từ là ngày muộn nhất trong các ngày đó.
Khi giao hàng trên nhiều phương tiện vận tải thì đó là giao hàng từng phần, cho dù chúng xuất phát cùng ngày và chở đến cùng một nơi
Chứng từ vận tải đa phương thức hoàn hảo
Nếu ghi chú về tình trạng khuyết tật của hàng hóa,bao bì trên các chúng từ vận tải đa phương thức là điều không thể chấp nhận,ví dụ như bao bì không phù hợp cho hành trình là không được. Nhưng khi bạn ghi là bao bì có thể không phù hơp cho vận chuyển thì có thể chấp nhận.
Nếu từ “hoàn hảo” trên chưng từ bị xóa đi,thì điều đó không nghĩa là đó là ghi chú hay không hoàn hảo, trừ khi nó có điều khoản hay ghi chú nói rõ là hàng hóa hay bao bì có khuyết tật
Mô tả hàng hóa
Mô tả hàng hóa trên chứng từ vận tải đa phương thức có thể chung chung, miễn là không mâu thuẩn với L/C
Những sửa chữa và thay đổi
Những sửa chữa hay thay đổi trên chưng từ phải có xác nhận và phải do người chuyên chở hoặc bất cứ một đại lí nào đó của họ thực hiện ( người này có thể khác với người đại lí đã phát hành hay kí chứng từ vận tải đa phương thức) ,miễn là họ phải thể hiện rõ họ là người đại lí của thuyền trưởng hay của người chuyên chở.
Các bản sao mà có sự sửa đổi thì không cần xác nhận khi đã thực hiện trên bản gốc
Cước phí và phụ phí
Khi L/C yêu cầu chứng từ vận tải đa phương thức ghi rõ cước phí đã trả hay sẽ trả tại cảng đến thì chứng từ phải thực hiện .
Những người yêu cầu hay các ngân hàng phát hành phải yêu cầu rõ chứng từ phải thể hiện cước phí phải trả trước hay sẽ thu sau
Khi L/C không chấp nhận các phụ phí thì chứng từ không được ghi là phụ phí đã hay sẽ thanh toán, ngay cả việc dùng các thuật ngữ giao hàng mà nó liên quan tới các chi phí xếp dở hàng hóa : miễn xếp( FI) , miễn xếp dở và sắp xếp( FIOS) .Còn khi đề cập các chi phí do dở hàng chậm hay phát sinh sau khi hàng hóa đã được dở xuống như chi phí do trả container chậm thì không được xem là phụ phí
Hàng hóa được cấp nhiều chứng từ vận tải đa phương thức
Nếu một chứng từ có ghi là hàng đóng trong container ngoài chứng từ này thì còn nhiều chứng từ khác và phải được giao (hoặc các từ tương tự) thì phải xuất trình cùng lúc theo cùng một L/C để giải tỏa container.Nếu không thì sẽ không được chấp nhận.
V. VẬN TẢI ĐƠN THEO HỢP ĐỒNG THUÊ TÀU
1/Áp dụng điều 22 UCP:
Áp dụng điều 22 UCP 600 trong trường hợp:
Khi hợp đồng vận tải yêu cầu xuất trình vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu
Khi L/C cho phép xuất trình vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu và vận tải dơn theo hợp đồng thuê tàu được xuất trình.
Một chứng từ vận tải chỉ ra là nó phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu thì nò là vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu tuân theo điều 22-UCP 600.
2/ /Điều khoản :vận tải theo hợp đồng thuê tàu phải gồm một bộ đầy đủ các bản gốc :
Các bản gốc có thể được ghi chú là “bản gốc thứ nhất”, ”bản gốc thứ 2”,”hai bản gốc như nhau”,”ba bản gốc như nhau”…hoặc các ghi chú tương tự.
Không nhất thiết trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải có chữ “original” mới được chấp nhận theo L/C.
3//Điều khoản về ký vận đơn theo hợp đồng thuê tàu:
Bản gốc của một vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải có chữ ký theo hình thức quy định tại điều 22-UCP 600.
Nếu vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được ký bởi thuyền trưởng,người thuê tàu hoặc chủ tàu thì chữ ký phải được xác nhận là của những người này.
Nếu vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được ký bởi một đại lý thay mặt thuyền trưởng,người thuê tàu,chủ tàu thì đại lý đó phải được nhận biết:không cần ghi tên của thuyền trưởng nhưng tên người thuê tàu hoặc chủ tàu thì phải được ghi ra.
4//Điều khoản về ghi chú đã bốc hàng lên tàu:
Nếu trên vận tải đơn theo hợp đồng thê tàu ghi “đã bốc hàng”thì ngày phát hành vận đơn được coi là ngày giao hàng,trừ khi trên vận đơn đã có ghi chú về hàng đã bốc thì ngày trong ghi chú về hàng đã bốc đó được coi là ngày giao hàng.
Có nhiếu cách diễn tả “đã bốc hàng lên tàu”,như” hàng đã bốc lên tàu nhìn bề ngoài trong điều kiện tốt”,hay” hàng đã bốc lên tàu”,”đã bốc”… và các cách diễn đạt tương tự.
5//Điều khoản về cảng bốc và cảng dỡ:
Nếu L/C quy định về một khu vực địa lý,một cảng bốc hoặc một cảng dỡ cụ thế thì vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải ghi cảng bốc hàng thực tế mà phải nằm trong khu vực địa lý hoặc trong trong dãy các cảng đã được nêu,nhưng có thể nêu các cảng là cảng dỡ hàng hoặc có thể ghi theo khu vực địa lý.
6/Điều khoản về người nhận hàng ,bên ra lệnh,người gửi hàng và ký hậu,bên thông báo:
Nếu L/ C yêu cầu một vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu ghi hàng hóa được giao cho một bên đích danh thì vận đơn theo hợp đồng thuê tàu không được ghi từ “theo lệnh”,hoặc “theo lện của” trước tên bên đích danh đó.Tương tự,nếu L/C quy định hàng hòa được giao “theo lệnh”,”theo lệnh của” thì không được ghi hàng hóa giao trực tiếp cho bên đích danh trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu.
Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được gửi hàng ký hậu nếu nó được phát hành theo lệnh,hoặc theo lệnh của người gửi hàng.(việc ký hậu cho thấy có thể cho phép thay mặt người gửi hàng.
Nếu L/c không ghi rõ tên người thông báo thì ô bên Thông báo trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu có thể để trống hoặc điền vào tùy ý cách.
7/Điều khoản về vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu hoàn hảo:
Các điều khoản hoặc ghi chú trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu:
Tuyên bố một cách rõ ràng về tình trạng khuyết tật của hàng hóa hoặc bao bì là không thể chấp nhận.
Không tuyên bố rõ ràng về tình trạng khuyết tật cùa bao bì thì không coi là có sai biệt.
Tuyên bố rằng:” bao bì không thích hợp chovận chuyển đường biển “ thì không thể chấp nhận.
Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu sẽ không được coi là hoàn hảo nếu từ “hoàn hảo” ghi trên vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu và bị xóa đi,trừ khi có một điều khoản hoặc ghi chú nói rõ rằng hàng hóa hoặc bao bì có khuyết tật.
8/Điều khoản về giao hàng từng phần:
Giao hàng trên nhiều con tàu gọi là giao hàng từng phần,ngay cả khi các tàu này khởi hành cùng một ngày để đến cùng một cảng đến.
Nếu L/C cấm giao hàng từng phần và có nhiều vận tải đơn gốc được xuất trình cho lô hàng từ một hay nhiều cảng bốc hàng (cho phép đặc biệt trong khu vực địa lý hoặc các loạt cảng quy định trong L/C (với điều kiện là chúng dùng cho việc giao hàng trên một con tàu ,cùng một hành trình,cùng một cảng dỡ hàng,loạt càng dỡ hàng hoặc khu vực địa lý.
Nếu có nhiều ngày giao hàng khác nhau của nhiều bộ vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu được xuất trình thì ngày giao hàng muôn nhất trong các ngày đó sẽ dược dùng để tính bất cứ thời hạn xuất trình nào (ngày đó phải xảy ra hoặc trước ngày giao hàng muộn nhất quy định trong L/C).
9/Điều khoản về mô tả hàng hóa:
Những mô tả hàng hóa trên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được miêu tả không miêu tả với những mâu thuẫn trong L/C.
10/Điều khoản về sửa chữa và thay đổi:
Những sữa chữa và thay đổi trên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải được xác nhận ,do người chủ tàu,người thuê tàu,thuyền trưởng hoặc bất cứ đại lý nào của họ.
Không cần phải xác nhận những thay đổi hoặc sửa chữa có thể đã được thể hiện trên bản gốc lên các bản sao vận đơn.
11/Điều khoản về cước phí và phụ phí:
Nếu L/c quy định vận đơn theo hợp đồng thuê tàu phải ghi cước phí đã trả hoặc sẽ trả tại cảng đến thì trên vận đơn đó phài ghi cho phù hợp
Đối với các chứng từ trả trước hoặc sẽ thu sau phải có quy định rõ ràng của người yêu cầu và các ngân hàng phát hành.
Không được ghi các phụ phí lên vận đơn theo hợp đồng thuê tàu nến L/C quy định không chấp nhận các phụ phí,các phụ phí này đề cập đến chi phí gắn liền với việc xếp dỡ hàng hóa như miễn xếp,miễn dỡ,miễn xếp dỡ,miễn xếp dỡ và sắp xếp.(các chi phí được đề cập trên chứng từ vận tải do dỡ hàng chậm hoặc chi phí sau khi dỡ hàng không được coi là phụ phí theo nghĩa này.
VI. CHỨNG TỪ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
Chứng từ vận tải hàng không là chứng từ được dùng để chuyên chở từ sân bay đến sân bay và được quy định ở điều 23 UCP600.
Nội dung của chứng từ vận tải hàng không:
1. Tiêu đề : “vận tải đơn hàng không” hoặc “ giấy gửi hàng hàng không” hoặc tương tự. Có thể không cần ghi tiêu đề.
Chứng từ vận tải hàng không không phải là giấy chứng nhận quyền sở hữu vì thế không nên phát hành “theo lệnh” hoặc “theo lệnh của” bên đích danh, khi xuất trình chứng từ ghi là được giao cho bên đó vẫn được chấp nhận.
Chứng từ vận tải hàng không phải là bản gốc dành cho người gửi hàng, cho dù thư tín dụng có quy định một bộ đầy đủ bản gốc.
Các bản sao không cần thiết có bất cứ chữ kí nào của người chuyên chở hoặc đại lí hoặc bất cứ xác nhận những thay đổi hoặc sữa chữa nào đã được thực hiện trên bản gốc chứng từ vận tải hàng không.
2. Chứng từ vận tải hàng không chỉ rõ tên của người chuyên chở và được ki bởi: Người chuyên chở hoặc đại lí đích danh cho hoặc thay mặt người chuyên chở.
Trường hợp thư tín dụng tuyên bố “chấp nhận vận tải đơn hàng không gom hàng” hoặc chấp nhận vận tải đơn hàng không của người giao nhận”, hoặc tương tự thì chứng từ vận tải hàng không có thể được kí bởi người giao nhận với tư cach người giao nhận, không cần nêu là người chuyên chở hoặc đại lí đích danh cho người chuyên chở. Trong trường hợp này cũng không cần thiết ghi tên người chuyên chở.
3. Chứng từ vận tải hàng không phải ghi rõ hàng hóa được nhận để chuyên chở.
4. Chứng từ vận tải hàng không phải ghi rõ ngày phát hành. Nếu chứng từ vận tải hàng không không có ghi chú cụ thể về ngày giao hàng thực tế thì ngày phát hành sẽ được tính là ngày giao hàng.
5. Ghi rõ tên sân bay khởi hành và sân bay đến như quy định của thư tín dụng.
Có thể xác định cá sân bay bằng cách sử dụng các ký hiệu viết tắt của Liên hiệp vận tải hàng không quốc tế IATA.
6. Mô tả hnagf hóa trong chứng từ vận tải hàng không có thể mô tả một cách chung chung không mâu thuẫn những mô tả đó trong thư ín dụng.
7. nếu không có dỡ hàng xuống và lại bốc hàng lên giữa hai sân bay trong một hành trình chuyên chở từ sân bay khởi hành đến sân bay đén quy định rong thư tín dụng thì không được xem là chuyển tải.
8. Giao hàng trên nhiều máy bay bất kể có khởi hành cùng ngày đến cùng một sân bay đến là giao hàng từng phần.
9. Trong trường hợp có nhiều chứng từ vận tải hàng không được xuất trình có ngày giao hàng khác nhau thì ngày giao hàng muộn nhất trong các ngày này sẽ được dùng để tính toán thời hạn xuất trình và ngày đó phải xảy ra vào trước ngày giao hàng châm nhất được quy định rtong thư tín dụng.
10. Cước phí vân tải được thể hiện trên chứng từ vận tải hàng không phù hợp với thư tín dụng vào ô riêng biêt in sẵn “cước phí đã trả” hoặc “cước phí sẽ thu sau” hoặc một thuật ngữ hay một chỉ dẫn tương tự.
Phụ phí không bao gồm các chi phí do dỡ hàng chậm hoặc phát sinh sau khi hàng hóa đã được dỡ xuống. Chứng từ vận tải hàng không được thể hiện là phụ phí sẽ có nếu một thư tín dụng quy định là không thể chấp nhận phụ phí.
VII.CÁC CHỨNG TỪ VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT VÀ ĐƯỜNG SÔNG
Áp dụng điều 24 UCP 600.
1/ Bản gốc và bản thứ hai của chứng từ vận tải
- Thư tín dụng yêu cầu chứng từ vận tải đường sắt hoặc đường sông thì chứng từ xuất trình đó được xem như một bản gốc (dù nó có ghi là bản gốc hay không).
- Chứng từ vận tải đường bộ phải chỉ ra rằng nó là bản gốc dành cho người gửi,người giao hàng hoặc không có ghi chú là chứng từ gửi cho ai.
-
2/ Người chuyên chở,việc ký các chứng từ đường bộ,đường sắt,đường sông:
Người chuyên chở bao gồm :
+ Người chuyên chở phát hành
+ Người chuyên chở kế tiếp
+ Người chuyên chở thực tế
+Người chuyên chở hợp đồng
Nếu người chuyên chở hay đại lý thay mặt người chuyên chở đã ký chứng từ vận tải thì “người chuyên chở” không cần thiết phải thể hiện ở bên chữ ký nếu có thể xác minh cách khác được người chuyên chở.
Việc đóng dấu,ký,ghi chú tiếp nhận trên chứng từ vận tải phải chứng minh đượ là do người chuyên chở đích thực hoặc một đại lý đích danh hoạt động và ký nhân danh người chuyên chở.( Phải chỉ ra được năng lực của người chuyên chở).
3/Các vấn đề khác
- Các chứng từ không phải là chứng từ về quyền sở hữu thì không nên phát hành “theo lệnh” hoặc “theo lệnh của” một bên đích danh.Các chứng từ đó có thể ghi hàng hóa giao thẳng cho bên kia.
- Giao hàng từng phần là hình thức giao hàng trên nhiều phương tiện chuyên chở (nhiều ô tô, nhiều tàu hỏa, nhiều tàu sông…) ngay cả khi các phương tiện này khởi hành cùng một ngày và đến cùng một địa điệm giao hàng.
- Hàng hóa có thể được mô tả một cách chung chung, không mâu thuẩn với quy định mô tả hàng hóa trong thư tín dụng.
- Các sửa chữa và thay đổi trên chứng từ vận tải phải đươc xác nhận bởi người chuyên chở hoặc bất cứ đại lý đích danh nào của họ. Đại lý này không phải là người phát hành hoặc ký chứng từ đó.
- Các bản sao không nhất thiết phải có sự xác nhận về việc sửa chữa đã được thay đổi trên bản gốc.
- Chứng từ phải được ghi chú cho phù hợp nếu thư tín dụng yêu cầu phải ghi cước phí đã trả hoặc có thể được trả tại nơi đến.
- Cần phải quy định cụ thể các yêu cầu đối với các chứng từ ghi cước phí phải được trả trước hoặc sẽ thu sau.
VIII. TÌM HIỂU VỀ CHỨNG TỪ BẢO HIỂM :
1. Khái niệm bảo hiểm và chứng từ bảo hiểm:
Bảo hiểm:
Bảo hiểm là một chế độ cam kết bồi thường về mặt kinh tế trong đó người được bảo hiểm (insured) có trách nhiệm phải đóng một khoảng tiền gọi là phí bảo hiểm (insurance premium) cho đối tượng được bảo hiểm (subject_matter insured) theo các điều kiện bảo hiểm (insurance conditions) đã được quy định. Ngược lại người bảo hiểm (insurer) có trách nhiệm bồi thường những tổn thất của đối tượng bảo hiểm cho các rủi ro đã bảo hiểm gây nên.
Chứng từ bảo hiểm:
Những chứng từ dùng để xác nhận đã kí kết một hợp đồng bảo hiểm và các điều khoản của hợp đồng đó, xác nhận việc trả phí bảo hiểm, thừa nhận hợp đồng bảo hiểm trên có hiệu lực và là chứng từ cần thiết khiếu nại hãng bảo hiểm để nhận tiền bồi thường bảo hiểm thì được gọi là chứng từ bảo hiểm.
Chứng từ bảo hiểm bao gồm:Đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, tờ khai theo hợp đồng bảo hiểm bao, tất cả phải do một công ty hoặc một người bảo hiểm cấp, nếu là đại lý hoặc người được ủy quyền của họ kí phát phải ghi rõ đại lý hoặc người được ủy quyền đã kí thay, thay mặt công ty hoặc người bảo hiểm đã kí.
Nếu chứng từ bảo hiểm được phát hành từ 2 bản gốc trở lên thì phải xuất trình tất cả.
Phiếu bảo hiểm tạm thời sẽ không được chấp nhận khi xuất trình và khi có khiếu nại.Ngày phát hành chứng từ bảo hiểm không muộn hơn ngày giao hàng.
2. Nội dung của đơn bảo hiểm:
Các điều khoản quy định trách nhiệm người bảo hiểm và người được bảo hiểm theo từng điều kiện bảo hiểm (các điều này thường được in sẵn).
Các điều khoản riêng biệt của hợp đồng bảo hiểm thường được kí kết:
Đối tượng được bảo hiểm: tên hàng, số lượng, kí mã hiệu, phương tiện chuyên chở.
Về giá trị bảo hiểm: nếu không quy định trong tín dụng về mức bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm tối thiểu bằng giá trị hàng hóa tính theo CIF hoặc CIP cộng 10% lời dự tính.
Nếu kinh doanh theo CIP thì mức bồi thường bảo hiểm là 110%CIP
Nếu kinh doanh theo CIF thì mức bồi thường bảo hiểm là 110%CIF
Khi trị giá CIP và CIF không xác định được thì dựa vào số tiền thanh toán hoặc tổng giá trị lô hàng, tùy theo số tiền nào lớn hơn.
Đồng tiền bảo hiểm phải thể hiện bằng đồng tiền ghi trên hợp đồng hoặc L/C
Phải quy định rõ loại bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm: AR, WA, EPA, SRCC…Nếu đơn bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm mọi rủi ro mà có một chứng từ bảo hiểm không đề cập đến hay có ghi chú tiêu đề “mọi rủi ro”thì vãn được xem là chứng từ bảo hiểm mọi rủi ro.
Tổng số phí bảo hiểm phải trả.
Địa điểm hàng hóa bắt đầu được bảo hiểm và nơi hết trách nhiệm bảo hiểm như quy định trong tín dụng.
Giấy chứng nhận bảo hiểm: là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm để chấp nhận bảo hiểm cho một lô hàng nào đó.
Giấy chứng nhận bảo hiểm có tác dụng :
Thay thế đơn bảo hiểm, làm bằng chứng về một bảo hiểm được kí kết.
Bằng chứng về phạm vi được bảo hiểm của hàng hóa, là chứng từ cần thiết trong hồ sơ khiếu nại bao gồm những điều gần giống như đơn bảo hiểm.
IX. GIẤY CHỨNG NHẬN XUẤT XỨ
Yêu cầu cơ bản
Yêu cầu đối với giấy chứng nhận xuất xứ sẽ đươc đáp ứng khi xuất trình chứng từ đã ký và ghi ngày tháng xác nhận nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa.
Những người phát hành giấy chứng nhận xuất xứ
Giấy chứng nhận phải do người được qui định trong thư tín dụng phát hành.Tuy nhiên nếu thư tín dụng yêu cầu một giấy chứng nhận xuất xứ do người thụ hưởng,người xuất khẩu hoặc nhà sản xuât phát hành thì một chứng từ do phòng thương mại cấp có thể được chấp nhận.Nếu một thư tín dụng không qui định ai là người phát hành giấy chứng nhận,thì một giấy chứng nhận do bất kỳ ngươi nào phát hành vẫn có thể chấp nhận.
Những nội dung yêu cầu của giấy chứng nhận xuất xứ
Giấy chứng nhận xuất xứ phải thể hiện là có liên quan đến hang hóa trong hóa đơn.Mô tả hàng hóa có thể mô tả chung chung nhưng không mâu thuẩn với mô tả đến hàng hóa ở các chứng từ được yêu cầu.
Thông tin về người nhận hàng phải không mâu thuẫn với chứng từ vận tải.Tuy nhiên,nếu thư tín dụng yêu cầu một chứng từ vận tải phát hành “theo lệnh” thì giấy chứng nhận xuất xứ có thể ghi tên gười yêu cầu phát hành thư tín dụng hoặc người nào khác được chỉ định đích danh như người nhận hàng.
Giấy chứng nhận xuất xứ có thể qui định người gửi hàng,hoặc là người xuất khẩu là một người mà không phải là người hưởng thụ của thư tín dụng hoặc người gửi hàng trong thư tín dụng.
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Giới thiệu về ISBP 1
Nội dung ISBP 681 1
I. Những nguyên tắc chung 2
II. Hối phiếu và cách tính ngày đáo hạn 8
III. Hóa đơn 10
IV. Chứng từ vận tải dùng cho ít nhất 2 phương thức vận tải khác nhau 12
V. Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu 18
VI. Chứng từ vận tải hàng không 22
VII. Các chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường sông 24
VIII. Tìm hiểu về chứng từ bảo hiểm 25
IX. Giấy chứng nhận xuất xứ 27