BẢO HIỂM HÀNG HOÁ

BẢO HIỂM HÀNG HOÁ


I. CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ

1. Các khái niệm chung về bảo hiểm

• Bảo hiểm( Insurance): Là một cam kết bồi thường về mặt kinh tế trong đó người được hưởng bảo hiểm phải có trách nhiệm phải đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm theo các điều kiện bảo hiểm đã được quy định. Ngược lại, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường những tổn thất của đối tượng bảo hiểm do các rủi ro được bảo hiểm gây nên.

• Tái bảo hiểm (Re- Insurance): Là sự di chuyển rủi ro giữa các công ty bảo hiểm (công ty bảo hiểm ký hợp đồng bảo hiểm gốc giữ lại một phần phí bảo hiểm của hợp đồng đó, phần còn lại bán lại cho một hay nhiều công ty bảo hiểm khác).

• Bảo hiểm trùng ( Double Insurance): Là việc tài sản được mua bảo hiểm 2 hoặc nhiều lần cho cùng một lợi ích bảo hiểm và có cùng một rủi ro.

• Đồng bảo hiểm ( Co- Insurance): Là việc nhiều công ty bảo hiểm đứng ra bảo hiểm cho cùng một đối tượng bảo hiểm.

• Người bảo hiểm( Insuer) : Là người kinh doanh , thu phí và bồi thường tổn thất khi tổn thất xảy ra.

• Đại lý bảo hiểm ( Insurance Agent): Là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quỳên trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Sự khác nhau giữa hoạt động của đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm:

+ Về địa vị pháp lý : Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm. Trong khi doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là các tổ chức kinh doanh độc lập chuyên kinh doanh trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm.

+ Về trách nhiệm : Đại lý là cá nhân (tổ chức) được công ty bảo hiểm uỷ quyền thực hiện một số nhiệm vụ nhất định. Công ty bảo hiểm mới là người chịu trách nhiệm cuối cùng về hành vi của đại lý đối với khách hàng. Khi cần khiếu nại, người được bảo hiểm phải tìm công ty bảo hiểm để khiếu nại chứ không tìm người đại lý. Trong khi đó doanh nghiệp môi giới thay mặt khách hàng giao dịch với công ty bảo hiểm để lựa chọn sản phẩm, dịch vụ phù hợp nhất cho khách hàng. Công ty môi giới bảo hiểm tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình trước pháp luật. Chính vì vậy, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm còn phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động môi giới bảo hiểm trong khi đại lý thì không. Khi cần khiếu nại người bảo hiểm, người được bảo hiểm phải tìm người bán bảo hiểm để khiếu nại và người môi giới phải chịu trách nhiệm về chất lượng dịch vụ của công ty bảo hiểm mà mình môi giới cho khách.

• Người đựơc bảo hiểm (Insured) : Là người có đầy đủ các yếu tố sau:

- Người tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm.

- Người có tên trên hợp đồng bảo hiểm.

- Người nộp phí bảo hiểm

- Người được bồi thường khi tổn thất xảy ra.


• Đối tượng được bảo hiểm( Subject- Matter Insured) : Là khách thể của hợp đồng bảo hiểm.

• Giá trị bảo hiểm ( Insurance Value): Là giá trị của đối tượng bảo hiểm cộng với các chi phí hợp lý khác. Ký hiệu: V

• Số tiền bảo hiểm( Insurance Amount): Là số tiền do người được bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm. Người được bảo hiểm chỉ được bồi thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Ký hiệu: A

Quy tắc cơ bản: A V

Trong trường hợp hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở đường dài thì cho phép:

Hoặc V=CIP + p%CIP hoặc V=CIF + p%CIF trong đó p% là lãi lãi dự tính thu được từ kinh doanh hàng hoá đó.

Nếu A = V thì giá trị bồi thường bằng giá trị tổn thất.

Nếu A < V thì giá trị bồi thường = A/V x giá trị tổn thất.

Giới hạn trách nhiệm ( Limitation of Liability): Là số tiền tối đa mà người bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm.
Tỷ lệ phí bảo hiểm ( Insurance Rate) : Là tỷ lệ % nhất định của A. Ký hiệu : R

Phí bảo hiểm: (Insurance Premium) : Là số tiền mà người đựơc bảo hiểm phải trả cho người bảo hiểm. Ký hiệu: I và I= RxA

Rủi ro (Risk) : Là những tai nạn, tai hoạ sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe doạ nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm.

Tổn thất ( Loss, Damge) : Là những thiệt hại, hư hỏng, mất mát của đối tượng bảo hiểm do rủi ro gây ra.

Điều kiện bảo hiểm : Là những quy định về pham vi trách nhiệm của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm bị tổn thất do những rủi ro đã thoả thuận gây ra.

Thời hạn trách nhiệm: Là trách nhiệm của người bảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm về mặt thời gian.

Khiếu nại bảo hiểm: Là việc yêucầu người bảo hiểm thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm: Là một văn bản trong đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người đựơc bảo hiểm những tổn thất của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro được bảo hiểm gây ra còn người được bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm.

1. Các nguyên tăc cơ bản của bảo hiểm

1.1 Bảo hiểm sự rủi ro chứ không bảo hiểm một sự chắc chắn ( Fortuity not Certainty).

Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm cho một rủi ro ( risk), không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra cũng như chỉ bồi thường thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra, không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra. đương nhiên xảy ra.

1.2 Nguyên tắc trung thực tuyết đối ( Utmost good faith).

Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm cho người được bảo hiểm biết; Không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.

Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm; Phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm; Rủi ro, những mối đe doạ nguy hiểm làm tăng thêm rủi ro... mà mình biết được cho người bảo hiểm; Không được mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất.
1.3 Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm ( Insurance Interest).

Lợi ích bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có ở trong đối tượng bảo hiểm.
Người có lợi ích bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro.

Nguyên tắc: Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có lợi ích bảo hiểm rồi mới được bồi thường.

1.4 Nguyên tắc bồi thường( Indemnity)

Khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trứơc khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi.

1.5 Nguyên tắc thế quyền (Subrogation).

Người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm có quyền thay người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ... cần thiết cho người bảo hiểm.

II. LỰA CHỌN HÌNH THỨC BẢO HIỂM VÀ NHÀ BẢO HIỂM PHÙ HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI XUẤT KHẨU.

Người xuất khẩu chỉ mua bảo hiểm trong trường hợp bán theo điều kiện giao hàng CIF, CIP và theo điều kiện của nhóm D ( DAF, DES, DEQ, DDU, DDP).

Để lựa chọn hình thức bảo hiểm và nhà bảo hiểm phù hợp, trước hết cần nghiên cứu kĩ hợp đồng mua bán ngoại thương và nội dung của tín dụng thư ( L/C – nếu thanh toán bằng L/C) để nắm vững loại phương tiện vận tải cần thuê, điều kiện bảo hiểm và giá trị bảo hiểm cần mua , nơi khiếu nại đòi bồi thường.

Nếu bán hàng theo điều kiện bằng cơ sở giao hàng CIF và CIP, người xuất khẩu mua bảo hiểm vì quyền lợi bảo hiểm của người mua (người mua là người được bảo hiểm). Nếu hợp đồng dẫn chiếu các điều kiện cơ sở giao hàng theo Incoterms 2000( hoặc Incoterm 1990) mà không có quy định gì thêm về việc mua bảo hiểm cho hàng hoá thì người xuất khẩu chỉ phải mua bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm tối thiểu ( điều kiện C – theo ICC 1982). Nếu hơp đồng hoặc L/C có quy định thêm về việc mua bán bảo hiểm thì người xuất khẩu phải thực hiện theo đúng quy định của hợp đồng hoặc L/C.

Nếu bán hàng theo các điều kiện D, người xuất khẩu mua bảo hiểm vì quyền lợi của chính mình. Khi đó cần căn cứ vào các yếu tố sau để lựa chọn hình thức bảo hiểm và nhà bảo hiểm phù hợp .

1. Đặc điểm của hàng hoá.

2. Đặc điểm của hành trình chuyên chở và phương tiện chuyên chở.

3. Phí bảo hiểm phải nộp

4. Chất lượng dịch vụ bảo hiểm của các công ty bảo hiểm

5. Mức độ tiện lợi trong việc mua bảo hiểm, khiếu nại và bồi thường.

Cần xác định mục đích mua bảo hiểm là vì sự an toàn cao nhất cho hàng hoá hay vì phải giảm chi phí và thời gian mua bảo hiểm, khiếu nại và bồi thường. Trên thực tế nhà xuất khẩu không tách biệt các tiêu chí trên để lựa chọn loại hình bảo hiểm và nhà bảo hiểm phù hợp mà chỉ cần có sự phối hợp của các tiêu chí sao cho đạt lợi ích và hiệu quả cao nhất.

III. BẢO HIỂM CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

1. Các điều kiện bảo hiểm đường biển

Hiện nay trên thị trường bảo hiểm quốc tế, các điều kiện bảo hiểm về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển được sử dụng rộng rãi nhất là các điều kiện bảo hiểm của Anh 1982 (ICC 1982). Theo đó những rủi ro và tổn thất được bảo hiểm bao gồm:

• Cạn, đắm, cháy, đâm, va;
• Dỡ hàng tại cảng lánh nạn;
• Phương tiện đường bộ bị lật đổ hay trật bánh;
• Tổn thất chung và các chi phí ( chi phí cứu nạn, chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất, chi phí giám định nhằm xác định tổn thất thuộc trách nhiệm của người bảo hiểm, chi phí khiếu nại và tố tụng, các chi phí khác nếu hợp lý);
• Vứt hàng khỏi tàu;

• Phương tiện vận tải bị mất tích;

• Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản 2 tảu đâm vào nhau cùng có lỗi;
• Động đất, núi lửa phun, sét đánh;
• Nước cuốn hàng khỏi tàu;
• Nước biển, nước sông, nước hồ tràn vào nơi chứa hàng trừ nước mưa;
• Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào do rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi xếp dỡ hàng hoá;
• Các rủi ro phụ ( các rủi ro này do nguyên nhân bên ngoài gây ra: Rách, vỡ, gỉ, va đập, bẹp, cong, vênh, trộm cắp, cướp, hấp hơi, mất mùi, lây hại, giao thiếu hàng hoặc không giao, dây bẩn, hành vi ác ý hoặc phá hoại của người khác được bảo hiểm, nước mưa, móc cầu hoặc những rủi ro tương tự.

ICC 1982 chia các điều kiện bảo hiểm thành 3 điều kiện gốc là:

• Điều kiện bảo hiểm A ( Inotitute Cargo Clauses A) : Phạm vi của điều kiện bảo hiểm này là lớn nhất. Theo các điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm sẽ có trách nhiệm bồi thường cho các nhóm rủi ro và tổn thất từ 1 đến 12 kể trên.

• Điều kiện bảo hiểm B (Inotitute Cargo Clauses B): theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm sẽ có trách nhiệm bồi thường cho các nhóm rủi ro và tổn thất từ 1- 11 kể trên.

• Điều kiện bảo hiểm C (Inotitute Cargo Clauses C):Đây là điều kiện bảo hiểm tối thiểu.Theo điều kiện này, người bảo hiểm sẽ có trách nhiệm bảo hiểm cho những rủi ro và tổn thất từ 1 –7 kể trên.

Ngoài ra ICC 1982 cũng có hai điều kiện bảo hiểm phụ đặc biệt là bảo hiểm chiến tranh (war) và bảo hiểm đình công (strike).

Khi mua bảo hiểm cho hàng hoá, người ta có thể mua bảo hiểm cho các điềukiện A, B, C hoặc mua theo điều kiện B rồi tuỳ theo tính chất của hàng hoá, phương tiện vận tải chuyển , hành trình chuyên chở để chọn mua thêm bảo hiểm cho một số rủi ro phụ trong nhóm rủi ro thứ 12 kể trên ( làm như vậy có thể tiết kiệm được phí bảo hiểm so vơi mua cả điều kiện bảo hiểm A).

Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm của hành trình chuyên chở, người mua bảo hiểm có thể chọn mua thêm bảo hiểm phụ đặc biệt ( bảo hiểm chiến tranh, bảo hiểm đình công) và phải trả phí riêng cho mỗi loại bảo hiểm phụ mua thêm này.

ICC 1982 cũng quy định các rủi ro loại trừ ( những ruie ro mà trong mọi trường hợp người bảo hiểm không bảo hiểm cho những rủi ro này):

• Mất mát, hư hỏng hay chi phí do hành vi sơ xuất hoặc cố ý của người được bảo hiểm.
• Các tổn thất thông thường hoặc mang tính bản chất của hànghoá.
• Các tổn thất do bao gói hoặc xếp hàng không đúng.
• Tổn thất do nội tỳ của hàng hoá.
• Rủi ro mất mát khả năng thanh toán của người chuyên chở.
• Rủi ro do chậm trễ của hành trình. ( Nhưng trong thời gian chậm trễ nếu hàng không bị tổn thất do cháy thì sẽ được người bảo hiểm bồi thường).
2. Phạm vi không gian và thời gian bảo hiểm ( cả ba điều kiện A, B, C)

2.1. Điều khoản vận chuyển( Transit Clause).

Trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực kể từ khi hàng hoá được bảo hiểm rời kho hoặc nơi chứa hàng tại địa điểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển và tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển bình thường.

Trách nhiệm bảo hiểm kết thúc tại một trong số các thời điểm sau đây, tuỳ theo trườnghợp nào xảy ra trước:

Khi hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của người nhận hàng hoặc của một người nào khác tại nơi nhận có tên trong hợp đồng bảo hiểm hoặc;

Khi giao hàng cho bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nào khác, dù trước khi tới hay tại nơi nhận ghi trong hợp đồng bảo hiểm mà người được bảo hiểm chọn dùng làm:

- Nơi chia hay phân phối hàng, hoặc

- Nơi chứa hàng ngoài quá trình vận chuyển bình thường, hoặc;


Khi hết hạn 60 ngày sau khi hoàn thành việc dỡ hàng hoá bảo hiểm khỏi tàu biển tại cảng dỡ hàng cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm.

Nếu sau khi dỡ hàng xong rakhỏi tàu nhưng trước khi kết thúc thời hạn của hợp đồng bảo hiểm hànghoá được gửi tới một nơi khác với kho đến ghi trong hợp đồng bbảo hiểm thì trách nhiệm của người bảo hiểm sẽ được kéo dài cho đến khi hànghoá được xếp lên phương tiện vận chuyển để chở đến nơi khác đó.

Trách nhiệm của người bảo hiểm vẫn tiếp tục có hiệu lực nếu có sự chậm trễ ngoài sự kiểm soát của người được bảo hiểm, tàu đi chệch đường, phải dỡ hàng bắt buộc, tái xếp hoặc tái chuyển tải và thay đổi hành trình phát sinh từ những đặc quyền mà chủ tàu hoặc người thuê tàu được hưởng theo qui định của hợp đồng vận tải.

2.2. Điều khoản kết thúc hợp đồng vận tải ( Termination of Contract of Carriage Clause).

Nếu do có sự cố ngoài sự kiểm soát của người được bảo hiểm mà hợp đồng vận tải kết thúc tại một cảng hoặc tại một địa điểm không phải là nơi đến quy định , hoăc việc vận chuyển bằng cách nào đó kết thúc trước khi gao hàng như quy định ở các khoản nói trên thì trách nhiệm của người được bảo hiểm cũng sẽ kết thúc, trừ phi có thông báo tiếp tục bảo hiểm gửi cho người bảo hiểm và nộp thêm phí bảo hiểm nếu người bảo hiểm yêu cầu khi:

• Hàng được bán hoặc giao nhận tại cảng hoặc địa điểm đó hoặc trừ khi có thoả thuận riêng khác, khi hết hạn 6 0 ngày sau khi hàng bảo hiểm đến cảng hoặc đến địa điểm đó, tuỳ theo trường hợp nào đến trước, hoặc;

• Nếu hàng hoá được gửi đi trongphạm vi 60 ngày đó ( hoặc bất kỳ phạm vi mở rộng nào đã thoả thuận) để tới nơi nhận hàng có tên ghi trong đơn bảo hiểm hay tới bất kỳ nơi nhận hàng nào khác thì cho tới khi kết thúc bảo hiểm theo những quy định của mục nói trên.

• Nếu trong thời hạn hiệu lực của bảo hiểm mà nơi đến được thay đổi bởi người được bảo hiểm thì bảo hiểm chỉ có hiệu lực khi có thông báo nhanh chóng cho người bảo hiểm trên cơ sở phí bảo hiểm và các điều kiện sẽ thoả thuận.

Ở Việt Nam, các điều kiện bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đường biển được nêu trong bản “ Quy tắc chung” 1998 ( QTC- 1998) của Bảo Việt về cơ bản cũng giống các điều kiện bảo hiểm của ICC 1982 đã nói ở trên. bản QTC- 1998 gồm 16 chương đề cập đến các vấn đề sau đây: Nguyên tắc chung; Phạm vi bảo hiểm; Loại trừ bảo hiểm; bắt đầu và kết thúc trách nhiệm bảo hiểm; Ký kết hơp đồng bảo hiểm; Giá trị bảo hiểmvà số tiền bảo hiểm; ký kết hợp đồng bảo hiểm; Giá trị bảo hiểmvà số tiền bảo hiểm;Bảo hiểm trùng và bảo hiểm giá trị tăng thêm; Hợp đồng bảo hiểm; Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất; Xác định tổn thất; Cách tính và thanh toán bồi thường; Chuyển quyền bồi thường; Từ bỏ hàng; Những quy định khác; Thời hiệu khiếu nai; Xử lý tranh chấp.

Để biết thêm chi tiết cụ thể, người mua bảo hiểm có thể xem các điều khoản và điều kiện trong hợp đồng chính thức của các công ty bảo hiểm của Việt Nam như Bảo Việt, Bảo Minh, Pijico, Bảo Long... hoặc mua bảo hiểm ở các công ty bảo hiểm của nước ngoài.

3. Thủ tục mua bảo hiểm cho hàng hoá

Thủ tục mua bảo hiểm cho hàng hoá nói chung gồm các công việc chính như sau:

• Doanh nghiệp đến công ty bảo hiểm lấy “ Giấy yêu cầu bảo hiểm hànghoá” theo mẫu in sẵn của công ty và điền vào giấy này.

Giấy yêu cầu bảo hiểm hàng hoá thường có các nội dung sau:

- Tên, địa chỉ của công ty bảo hiểm
- Tên, địa chỉ, số điện thoại, số tài khoản của người được bảo hiểm
- Tên hàng, số lượng, trọng lượng, ký mã hiệu,tính chất bao bì
- Giá trị hàng hóa và số tiền bảo hiểm
- Phương tiện vận chuyển hàng hoá
- Ngày khởi hành
- Cảng xếp hàng, cảng dỡ hàng, cảng chuyển tải, nếu có
- Điều kiện bảo hiểm
- Nơi thanh toán tiền bồi thường
- Ngày tháng và chữ ký của người được bảo hiểm.
Sau khi ký tên đóng dấu vào giấy yêu cầu bảo hiểm, người được bảo hiểm chuyển giấy yêu cầu này cho công ty bảo hiểm. Nếu công ty bảo hiểm chấp nhận giấy yêu cầu bảo hiểm thì sẽ cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chững nhận bảo hiểm cho người bảo hiểm, hoặc ký hợp đồng bảo hiểm với người được bảo hiểm. Cần chú ý rằng đơn bảo hiểm tuy không phải là hợp đồng bảo hiểm nhưng có giá trị như một hợp đồng bảo hiểm. Giấy chứng nhận bảo hiểm không có giá trị như hợp đồng bảo hiểm, vì vậy nếu nhận được giấy chứng nhận bảo hiểm người mua nên đến công ty bảo hiểm để đổi lấy đơn bảo hiểm.

• Hợp đồng bảo hiểm:

Hợp đồng bảo hiểm phải có các nội dung chung nhất sau:
- Tiền hàng được bảo hiểm
- Loại tàu chở hàng
- Cách tính giá trị bảo hiểm
- Số tiền bảo hiểm
- Cách thanh toán phí bảo hiểm và tiền bồi thường
- Cấp chứng từ bảo hiểm
- Các quyền và nghĩa vụ khác của các bên.
Ngoài ra trong hợp đồng bảo hiểm chuyến (tương ứng với cách mua bảo hiểm chuyến), người ta còn phải quy định chi tiết về hàng hoá, hành trình chuyên chở... còn trong hợp đồng bảo hiểm bao (tương ứng với cách mua bảo hiểm bao) chỉ có các nội dung chung nhất như trên. Đến mỗi chuyến hàng giao, người ta sẽ điền vào các chi tiết khác vào giấy chứng nhận bảo hiểm cho từng chuyến.

• Đơn bảo hiểm :

Đơn bảo hiểm là bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm ( không phải là hợp đồng bảo hiểm nhưng có giá trị như hợp đồng bảo hiểm). Nội dung đơn bảo hiểm gồm 2 mặt: mặt 1 ghi các chi tiết về hàng hoá, tàu, hành trình, người bảo hiểm và người được bảo hiểm thường bao gồm các nội dung sau:

- Tên, địa chỉ của người được bảo hiểm và người được bảo hiểm
- Tên hàng, số lượng, trọng lượng, số vận đơn.
- Tên tàu, ngày khởi hành.
- Cảng đi, cảng đến, cảng chuyển tải.
- Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm.
- Điều kiện bảo hiểm ( ghi rõ quy tắc nào, của nước nào).
- Tỷ lệ bảo hiểm, phí bảo hiểm.
- Nơi và cơ quan giám định tổn thất.
- Nơi và cách thức bồi thường.
- Ngày tháng, chữ ký, của công ty bảo hiểm.
Mặt 2 in sẵn các quy tắc, thể lệ bảo hiểm của công ty bảo hiểm có liên quan.

• Giấy chứng nhận bảo hiểm: chỉ có nội dung như một mặt của đơn bảo hiểm.

Lưu ý:

Để thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ, ngày ghi trên đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm là ngày xếp hàng lên tàu hoặc ngày nhận hàng để chở, loại tiền phải giống hai loại tiền trong L/C trừ khi có quy định khác. Khi ngưòi xuất khẩu xuất trình chứng từ để thanh toán ở ngân hàng, phải xuất trình chọn bộ ( full set) hoặc 1 bản gốc duy nhất ( a sole original) cho ngân hàng.

• Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi phát hiện hàng hoá có tổn thất hay nghi ngờ hàng có tổn thất:

- Thông báo ngay cho người bảo hiểm hoặc đại lý của họđến để giám định. Nếu người bảo hiểm không có đại lý ở địa phương, người được bảo hiểm có thể yêu cầu một giám định viên đăng ký tại địâ phương giám định. Trừ khi đã có một thoả thuận khác, người bảo hiểm có quyền từ chối giải quyết một vụ khiếu nại không được chứng minh bằng biên bản giám định ( Survey Report).

- Tiến hành mọi biện pháp có thể nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất. Nếu không người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường cho các mất mát hư hỏng.

- Tự mình hoặc hoặc hướng dẫn người bảo hiểm tham gia cứu hộ và bảo vệ hàng.

- Bảo lưu đầy đủ quyền khiếu nại cho người bảo hiểm đối với người vận chuyển hay người thứ ba:

+ Khiếu nại người vận chuyển, chính quyền cảng về bất kỳ kiện hàng nào bị mất.

+ Yêu cầu đại diện người vận chuyển tham gia chứng kiến giám định ngay khi phát hiện hàng có hiện tượng mất mát hư hỏng. Qua giám định nếu có tổn thất phải nộp hồ sơ khiếu nại.

+ Nếu tổn thất thuộc loạikhó phát hiện vào thời gian giao nhận hàng, gửi thư dự kháng ( Letter of Reservation) cho đại diện người vận chuyển trong vòng 3 ngày kể từ ngày nhận hàng.

Nếu người được bảo hiểm không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trên, người bảo hiểm có quyền từ chối các khiếu nại thuộc trách nhiệm của người vận chuyển hay người thứ ba.

• Các bước thực hiện khi phát hiện hay nghi ngờ về hàng hoá bị tổn thất:

Trường hợp phát hiện hay nghi ngờ hàng hoá bị tổn thất người được bảo hiểm hoặc đại diện của họ có thể tiến hành các bước sau đây:

- Đối với hàng hoá bị tổn thất riêng:

+ Phải gửi thông báo và yêu cầu người bảo hiểm hoặc đại lý của họ giám định ngay bằng cách gửi giấy yêu cầu giám định theo mẫu trong vòng 60 ngày kể từ khi hàng được bốc dỡ khỏi tàu biển tại cảng có ghi tên trên đơn hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.

+ Gửi ngay thư khiếu nại (hoặc bảo lưu quyền khiếu nại) cho người chuyên chở hoặc chính quyền cảng về tổn thất đó.

- Đối với hàng hoá bị tổn thất chung:

+ Ký vào các văn bản liên quan đến tổn thất chung theo yêu cầu của chủ tàu.
+ Thông báo cho người bảo hiểm để làm thủ tục bảo lãnh hoặc ký quỹ tổn thất chung.

Lưu ý:

Đối với các tổn thất chung dưới 200USD, nếu có đầy đủ chứng từ xác nhận tình trạng tổn thất do người chuyên chở hoặc người thứ ba gây ra thì không cần yêu cầu giám định.

- Đối với hàng hoá bị tổn thất toàn bộ:

+ Thông báo ngay cho người bảo hiểm biết mọi tin tức đã thu thập được.

+ Cùng với người bảo hiểm tiến hành mọi thủ tục và biện pháp giải quyết có hiệu qủa và kinh tế nhất.

- Đối với hàng hóa nghi ngờ có tổn thất:

+ Lập và gửi ngay thư dự kháng (Letter of Reservation) cho thuyền trưởng trong vòng 3 ngày kể từ ngày lô hàng được dỡ khỏi tàu.

+ Yêu cầu và tổ chức giám định giám định đối tịch ( chủ hàng, bảo hiểm, tàu) ngay trong thời gian nói trên.

4. Giám định, khiếu nại và bồi thường khi xảy ra tổn thất về hàng hoá.

4.1 Giám định tổn thất.

• Người giám định: Chuyên gia giám định của người bảo hiểm hoặc công ty giám định được người bảo hiểm uỷ quyền.

• Người yêu cầu giám định: Người được bảo hiểm.

• Nội dung giám định: Xác định nguyên nhân và mức độ của tổn thất làm cơ sở cho việc bồi thường.

Giám định tổn thất được tiến hành khi hàng hoá bị hư hỏng, đổ vỡ, thiếu hụt, giảm phẩm chất, thối... ở cảng đến hoặc tại cảng dọc đường.

Sau khi giám định, người giám định sẽ cấp giấy chứng thư giám định. Chứng thư giám định gồm 2 loại: Biên bản giám định và Giấy chứng nhận giám định.

So với giấy chứng nhận giám định, biên bản giám định là một văn bản đầy đủ hơn, gồm cả tiếng việt, tiếng Anh và thường được dùng khi người bảo hiểm là các công ty bảo hiểm của Việt Nam.

Biên bản giám định là chứng tà rất quan trọng trong việc bồi thường, vì vậy khi hàng hoá cập cảng đến, nếu có tổn thất phải yêu cầu giám định ngay (không muộn hơn 60 ngày kể từ ngày hàng dỡ khỏi tàu). Cơ quan giám định phải là cơ quan được quy định trong hợp đồng bảo hiểm hoặc cơ quan được người bảo hiểm uỷ quỳên.

4.2. Khiếu nại người bảo hiểm

• Hồ sơ khiếu nại:

Sau khi thực hiện đầy đủ các công việc cần làm khi phát hiện nghi ngờ hàng hoá bị tổn thất, người được bảo hiểm lập hồ sơ khiếu nại với người bảo hiểm. Hồ sơ khiếu nại để đòi người bảo hiểm bồi thường gồm nhiều loại giấy tờ khác nhau tuỳ từng trường hợp tổn thất, nhưng phải chứng minh được :

- Người khiếu nại có lợi ích bảo hiểm;
- Hàng hoá đã được bảohiểm;
- Tổn thất thuộc mọi rủi ro được bảo hiểm;
- Giá trị bảohiểm, số tiền bảo hiểm;
- Mức độ tổn thất;
- Số tiền đòi bồi thường;
- Đảm bảo để người bảo hiểm có thể đòi được người thứ ba bồi thường ( thực hiện nguyên tắc thế quyền).
Hồ sơ khiếu nại nhất thiết phải gồm các giấy tờ sau:

- Đơn bảo hiểm ( Insurance Policy) hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm ( Certificate of Insurance), bản gốc;
- Vận đơn đường biển (L/C) bản gốc và hợp đồng thuê tàu (C/P) ( nếu có);
- Hoá đơn thương mại ( Commercial Invoice), bản chính;
- Hoá đơn về các chi phí khác ( nếu có);
- Giấy chứng nhận số lượng, trọng lượng;
- Biên bản kết toán nhận hàng với tàu ( Report on Reciept of Cargo);
- Phiếu đóng gói ( Packing List), bản chính;
- Văn bản giấy tờ liên quan đến việc đòi người thứ ba bồi thường và trả lời của họ, ( nếu có);
- Kháng nghị hàng hải ( Sea Protest) hoặc nhật ký hàng hải ( Log Book);
- Thư khiếu nại có ghi số tiền yêu cầu bồi thường.
Ngoài ra, tuỳ từng trường hợp tổn thất, còn phải có:
- Nếu đòi bồi thường hàng hoá bị hư hỏng, đổ vỡ, thiếu hụt, giảm phẩm chất cần có thêm các giấy tờ:

+ Biên bản giám định (Survey Report) của người bảo hiểm hoặc đại lý của họ cấp;
+ Biên bản dỡ hàng (Cargo Outturn Report).
+ Biên bản đổ vỡ hư hỏng do cảng gây nên (COR);
+ Thư dự kháng ( Letter of Reservation) trong trường hợp tổn thất không rõ rệt.

Nếu đòi bồi thường hàng thiếu nguyên kiện; cần có thêm các giấy tờ:

+ Bản kết toán nhận hàng với tàu ( RoRoC);
+ Giấy chứng nhận hàng thiếu ( Cirtificate of Shorthanded cargo) do đại lý tàu biển cấp;
+ Kết toán lại ( Correction sheet) của cảng, (nếu có);
- Nếu đòi bồi thường tổn thất chung cần có thêm các giấy tờ:

+ Văn bản tuyên bố tổn thất chung của thuyền trưởng ( g/a decleration letter);
+ Văn bản tính toán, phân bố tổn thất chung ( General Average Adjustment) của lý toán sư ( chuyên gia tính toán phân bổ tổn thất chung);
+ Các văn bản có liên quan khác như Valuation form, average bord, average guarantee...
• Thời hạn khiếu nại:

Theo bản QTC- 1998 ( cũng như ITC 1982) , thời hạn khiếu nại với người bảo hiểm là 2 năm kể từ ngày có tổn thất hoặc phát hiện tổn thất. Tuy nhiên, bộ hồ sơ khiếu nại phải gửi đến công ty bảo hiểm trong vòng 9 tháng để người bảo hiểm còn kịp khiếu nại các bên có liên quan.


4.3. Đòi bồi thường

Nguyên tắc tính toán tiền bồi thường tổn thất của các công ty bảo hiểm Việt Nam về cơ bản là phù hợp tập quán quốc tế.

Các công ty bảo hiểm Việt Nam tính toán và bồi thường tổn thất trên cơ sở các nguyên tắc:

- Bồi thường bằng tiền chứ không phải bằng hiện vật. Đồng tiền bồi thường là đồng tiền thoả thuận trong hợp đồng. Nếu không có thoả thuận thì nộp phí bảo hiểm bằng đồng tiền nào, bồi thường bằng đồng tiền đó.

- Về nguyên tắc, trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm vi số tiền bảo hiểm. Tuy nhiên, khi cộng tiền tổn thất với các chi phí cứu hộ, chi phí giám định, chi phí đánh giá và bán lại hàng hoá bị tổn thất, chi phí đòi người thứ ba bồi thường, tiền đóng góp tổn thất chung thì đủ vượt quá số tiền bảo hiểm người bảo hiểm vẫn phải bồi thường.

- Khi thanh toán tiền bồi thường , người bảo hiểm có quyền khấu trừ những khoản thu nhập của người được bảo hiểm trong việc bán hàng và đòi ở người thứ ba.

Tóm lại, người bảo hiểm chỉ bồi thường sao cho phần lợi ích được bảo hiểm của người được bảo hiểm được trở về tình trạng tài chính ban đầu trước khi có tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra.

• Cách tính toán tiền bồi thường tổn thất:

Tổn thất toàn bộ:

- Tổn thất toàn bộ thực tế (Actual total loss)

Người bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm : P=A

P: số tiền bồi thường

A: số tiền bảo hiểm

- Tổn thất toàn bộ ước tính ( Constructive total loss) có 2 trường hợp xảy ra:

+ Nếu người được bảo hiểm có thông báo từ bỏ hàng và được ngưòi bảo hiểm chấp nhận thì người được bảohiểm phải bồi thường toàn bộ , tức là P=A.

+ Nếu người được bảo hiểm không từ bỏ hàng nhưng không được chấp nhận thì chỉ được bồi thường như tổn thất bộ phận dưới đây:

Tổn thất bộ phận:

Việc tính toán bồi thường tổn thất toàn bộ tại Việt Nam xảy ra mất trường hợp sau:

+ Bồi thường tổn thất do đổ vỡ, hư hỏng, thiếu hụt, giảm phẩm chất... có biên bản giám định chứng minh mức tổn thất. Trong trường hợp này, số tiền bồi thường bằng tỷ lệ tổn thất ( mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám định ) nhân với số tiền bảo hiểm:

P = m x A ( m là tỷ lệ tổn thất)

Nếu biên bản giám đinh không ghi mức độ giảm giá trị thương mại mà chỉ ghi số lượng, trọng lượng hàng hoá bị thiếu hụt thì tiền bồi thường được tính toán như sau:

P = ( T2/T1) x A

Trong đó:

T2: là trọng lượng hàng hóa hoặc số lượng hàng hoá bị thiếu hụt

T1: là trọng lượng hàng hóa hoặc số lượng hàng hoá theo hợp đồng

P : là số tiền bồi thường

A : là số tiền bảo hiểm

+ Bồi thường mất nguyên kiện: Thường xảy ra trong các trường hợp như tàu giao thiếu hàng hoặc không giao hàng, các điều kiện hàng bị tổn thất toàn bộ trong khi xếp dỡ.

Trong trường hợp này, nếu kiện hàng đó có đơn giá đã kê khai thì:

Số tiền bồi thường = Số kiện hàng bị mất x đơn giá

Nếu các kiện hàng không có đơn giá thì bồi thường như trường hợp tổn thất về số lượng, trọng lượng nói trên.

Lưu ý:

- Số tiền bảo hiểm ( A) và giá trị bảo hiểm (V) phải được tính toán đầy đủ:

- Giá trị bảo hiểm (V) = giá hàng + phí bảo hiểm + chi phí vận chuyển trên chặng đường vận tải được bảo hiểm + lãi dự tính nếu có.

- Nếu hợp đồng bảo hiểm không ghi rõ số tiền bảo hiểm là bao nhiêu thì số tiền bảo hiểm phải được coi là bằng giá trị bảo hiểm ( A = V)

- Các chi phí được người bảo hiểm bồi thường:

+ chi phí tố tụng và đề phòng tổn thất và chi phí ra nhằm ngăn ngừa là giảm chi phí tổn thất hoặc để bảo vệ quyền lợi của hàng hoá bảo hiểm hoặc những chi phí liên quan đến việc đòi người thứ ba bồi thường.

+ Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm của người bảo hiểm.

Bồi thường tổn thất chung:

Có 2 khoản liên quan đến tổn thất chung mà người bảo hiểm phải bồi thường là:

- Hy sinh tổn thất chung (g/a sacrifices): nếu toàn bộ hay một phần của lôn hàng bị hy sinh để cứu tàu và được công nhận là tổn thất chung thì người bảo hiểm đã bồi thường giá trị đã bị hy sinh.

- Đóng góp tổn thất chung (g/a contribution): trên cơ sở bản phân bổ tổn thất chung ( g/a adjustment) do lý toán sư lập nên, người bảo hiểm sẽ bồi hoàn phần đóng góp của chủhàng vào tổn thất chung, dù hàng hoá được bảo hiểm theo bất kỳ điều kiện gì.

Thời hạn thanh toán tiền bồi thường: 30 ngày kể từ ngày người bảo hiểm nhận được hồ sơ khiếu nại.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
Lên đầu trang
Xuống cuối trang